Trên cơ sở lí luận tương tác thể loại, dựa vào một số công trình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam ở hải ngoại sau 1975 theo khuynh hướng tìm về cội nguồn của chính mình, bài viết phân loại, phân tích và đánh giá các hiện tượng tương tác thể loại trong truyện ngắn. Kết quả nghiên cứu cho thấy truyện
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong công trình "Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại" cũng khẳng định sự thành công của truyện ngắn sau 1975: "truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng", "truyện ngắn có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổi mới" [5, 201- 203].
Câu 2: Văn học Việt Nam từ 1945 - 1975 phát triển qua mấy chặng đường?Nêu những thành tựu chủ yếu của mỗi chặng đường. Trả lời: 1945-1954: thành công ở truyện và thơ ca kháng chiến. 1955-1964: Thành công với truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ. Kịch được chú ý.
Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 tồn tại và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giao lưu văn hóa với nước ngoài còn hạn chế. Nền văn học mới vận động, phát triển và thống nhất dưới sự lãnh
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1945 - 1975 35 1.3.3. Giai đoạn 1975 đến nay 39 Chương 2. Kết cấu hình tượng 43 2.1.1. Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn trữ tình như là chủ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945); khóa luận tốt ngắn trữ tình trong bài Về
. Giới nghiên cứu cũng như giới sáng tác hầu như đều thống nhất sau 1975, truyện ngắn là thể loại gặt hái nhiều thành công, “được mùa thể loại”. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng tiếp theo “những vụ được mùa của truyện ngắn, đây có thể coi là giai đoạn có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt Nam”[1, 174]. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong công trình “Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại” cũng khẳng định sự thành công của truyện ngắn sau 1975 “...truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng”, “truyện ngắn có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổi mới” [5, 201- 203]. Theo chúng tôi, sự vận động và thành tựu của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 bộc lộ khá phong phú ở nhiều mặt. Ở bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số phương diện của hình thức thể loại. Sự vận động ở dạng thức cấu trúc cốt truyện Nhìn ở dạng thức cấu trúc cốt truyện, có lẽ đây là giai đoạn mà truyện ngắn Việt Nam có dạng thức thể loại phong phú và đa dạng nhất so với từ trước đến giờ. Có thể nói, luồng gió đổi mới đã tạo ra không khí sôi nổi chưa từng có trong đời sống văn học với sự phát triển đột phá của các cá tính, phong cách. Ở loại hình văn xuôi nghệ thuật, truyện ngắn, có lẽ là sân chơi rộng rãi nhất để các cây bút thể nghiệm và trổ ra những tìm tòi, phát kiến mới. Có khá nhiều những “tuyên ngôn mới” về văn chương được công bố, đi liền với tuyên ngôn là những sáng tác mang tính kiểm chứng. Qua quan sát tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy một số dạng thức cốt truyện sau tiêu biểu thể hiện sự tìm tòi đổi mới của truyện ngắn sau 1975. Truyện cực ngắn, truyện ngắn ngắn, truyện siêu ngắn truyện mi ni Truyện cực ngắn hay còn gọi là truyện ngắn mi ni là khái niệm để chỉ những truyện ngắn dưới 1000 từ. Trên thế giới, dạng thức truyện ngắn mi ni không còn quá mới mẻ. Từ những năm cuối của thế kỷ 19, đầu thế kỷ hai mươi, Kapka đã viết những truyện ngắn dưới 500 Làng gần nhất nổi tiếng của ông dưới 100 từ. Một số truyện khác như Những thân cây, Về những ẩn ngữ,… chỉ khoảng 50 từ. Xu hướng viết truyện cực ngắn xuất hiện và rộ lên thành phong trào ở nước ta chủ yếu xuất hiện từ sau 1975. Vào khoảng giữa thập kỷ 80, Tạp chí Thế giới mới, phụ san của báo Giáo dục thời đại, lần đầu tiên tổ chức cuộc thi truyện ngắn mi ni. Cuộc thi đã thu hút hàng trăm cây bút với hàng nghìn tác phẩm trên khắp cả nước. Cuộc thi không chỉ xới lên hứng thú viết truyện mi ni mà còn tạo dấu mốc, từ nay truyện mi ni sẽ có chỗ đứng trong sự quan tâm của độc giả Việt Nam. Trong thời đại thông tin như hiện nay, người ta đọc truyện qua Môbai, qua các trang Web điện tử nên xu hướng viết truyện mi ni đang là sự lựa chọn của nhiều cây bút, nhất là những cây bút thế hệ 8X, 9X. Đặc điểm của truyện cực ngắn là sự giản lược tối đa tình huống, tình tiết, chi tiết truyện. Nếu truyện ngắn “sống” bằng chi tiết thì truyện mi ni “sống” bằng ý tưởng. Tình tiết, chi tiết, tình huống trong truyện mi ni không có giá trị tạo dựng cốt truyện mà chỉ có ý nghĩa gợi ra ý tưởng. Người đọc không phải quá bận tâm về tình tiết, chi tiết mà cần quan tâm đến sự gợi mở của các tình tiết, chi tiết ấy. Ở truyện cực ngắn, tình tiết, chi tiết như chiếc chìa khoá để mở ra những lớp ý tưởng mà tác giả muốn gửi gắm và người đọc đồng sáng tạo. Thử khảo sát một vài truyện sau Truyện “Nó” Ba nó bỏ đi lúc nó còn đỏ hỏn. Ngoại và mẹ nuôi nó trong nghèo khó. Đau khổ và hạnh phúc. Được vài năm, cái đói nghèo cướp mất ngoại. Thiếu hơi bà, nó ngằn ngặt khóc đêm. Mẹ chỉ ôm nó vào lòng, để tay lên ngực trái, dỗ dành “Ngoại có đi đâu! Ngoại ở đây mà!”. Vậy là nó nín. Rồi mẹ cũng theo bà. Hôm tang mẹ, thấy dì khóc, nó bảo “Mẹ có đi đâu! Mẹ ở đây mà!” rồi lấy tay đặt trên ngực trái, chỗ trái tim. Nó dỗ thế mà dì chẳng nín, lại ôm nó khóc to hơn. Thanh Hải [ Có một số chi tiết được nói tới nhưng không được khai thác mà chỉ đưa ra như những thông báo Ba bỏ đi, Ngoại mất, Mẹ mất. Nó khóc đòi ngoại Có nhân vật Ba, Ngoại, Mẹ, Dì, và Nó, nhưng cũng chẳng có nhân vật nào được khắc hoạ tính cách cụ thể mà chỉ được gợi ra, được nhắc đến, có vai trò như “phông”, “nền” để tác giả đóng lên cái “đinh” chi tiết. Toàn bộ câu chuyện này xoay quanh chi tiết được dùng hai lần, chi tiết “đặt tay lên ngực trái, chỗ trái tim”. Mẹ nó đã dùng cách ấy để an ủi nó khi Ngoại nó mất. Trái tim bé thơ của nó đã đặt niềm tin tuyệt đối vào sự cứu rỗi đó và nó cũng định dùng cách này để giúp Dì. Nhưng Dì nó không những không nín mà còn “ôm nó khóc to hơn”. Nếu coi đây là chi tiết diễn đạt tư tưởng của truyện thì ngay cả ở chi tiết này tư tưởng cũng không nằm trong chi tiết mà nằm ngoài chi tiết. Người đọc có thể thấy sức nén của chi tiết. Tác giả không mô tả chi tiết, không diễn tả cảnh huống mà chỉ thông báo “kết quả” của cảnh huống, vì thế tất cả nội dung của truyện được “gợi” chứ không “tả”. Chẳng hạn, để thuyết phục một đứa trẻ thiếu cha, mẹ bươn chải kiếm sống, tuổi thơ sống với bà, được bà yêu chiều bằng sự bù đắp tình thương thì khi bà mất, chắc chắn đó sẽ là một mất mát lớn, không thể chỉ bằng một động tác và một lời thuyết phục đơn giản “Ngoại ở đây”. Nhưng chi tiết đứa trẻ vận dụng cách ấy để thuyết phục người lớn thì có thể có thật vì nó là đứa trẻ, tâm hồn ngây thơ trong trắng và tình yêu bà khiến nó có điểm tựa niềm tin. Có thể nói, tác giả đã “tóm” được chi tiết vừa giàu sức khái quát vừa rất cụ thể sinh động này để tạo nên hồn cốt cho tác phẩm Tình yêu, sự yêu thương, chia sẻ, cảm thông, lòng nhân văn, nhân ái, vẫn là nội dung dễ lay động lòng người. Đó là điểm bắt đầu và là cái đích cuối cùng trong hành trình mà tạo hoá ban cho hành trình làm người. Tác giả Thuý Bắc lại có một truyện ngộ nghĩnh khác, truyện “Con muốn” Cu Tí, ngoài giờ học bán trú ở trường. Buổi tối và chủ nhật còn phải thêm môn học đàn, học vẽ, học tiếng Anh. Thằng Tèo nhà bên cạnh bố mất sớm, mẹ nó phải nuôi ba đứa em nên Tèo phải nghỉ học. Hàng ngày mỗi khi nghe thấy tiếng đàn của Tí, Tèo rón rén nép mình bên hàng rào nhòm vô. Nhìn ra thấy Tèo đứng đó, Tí mếu máo - Ba ơi, con muốn được như thằng Tèo [ Ở truyện này, ý nghĩa của truyện cũng không nằm trong chi tiết mà nằm ngoài chi tiết, từ sức gợi của chi tiết Tèo, đứa trẻ thiếu cha, thèm những gì mình không có; Tí - quá đủ đầy sinh ra tâm lý ngược lại muốn chối bỏ những điều kiện quá đủ đầy mà với tuổi thơ, có khi đó lại là gánh nặng, là áp lực. Triết lý rút ra từ đây Hạnh phúc là cái gì thật khó giải thích, bất hạnh của kẻ này đôi khi lại là niềm mơ ước của kẻ khác. Song, ý nghĩa của câu chuyện không chỉ có thế. Từ mâu thuẫn đằng sau tiếng cười là nước mắt, là thông điệp đầy day dứt xã hội vẫn còn nhiều những cảnh ngộ éo le như hoàn cảnh của cu Tí; làm sao để mọi đứa trẻ đều được đến trường? làm sao để có một nền giáo dục lý tưởng - ở nền giáo dục ấy mọi trẻ em đều được quan tâm đúng như tinh thần của câu khẩu hiệu “Hãy giành cho trẻ em những gì tốt nhất”. Ở môi trường giáo dục ấy, mọi trẻ em đều tìm thấy niềm vui, hạnh phúc, tình bạn, và niềm tin yêu vào cuộc đời. Hoặc giả, có thể còn thông điệp khác, hãy bớt chút thời gian để quan sát cuộc sống của những người xung quanh, ta sẽ nhìn ra mình rõ hơn, có cách sống hài hoà hơn, biết chia sẻ và cảm thông với đồng loại. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy truyện mi ni đang ngày càng nở rộ và chiếm lĩnh văn đàn ở nhiều hình thức. Truyện trong truyện và truyện liên hoàn Ngược lại với kiểu truyện mi ni, dạng thức truyện trong truyện và truyện liên hoàn lại là hình thức kéo dài truyện, chuyện nọ kéo sang chuyện kia hoặc gối lên nhau thành các lớp truyện hoặc chuỗi truyện nhiều khi khá phức tạp. Đại diện cho kiểu kết cấu cốt truyện này là Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất nhiều chi tiết, tình tiết. Mỗi nhân vật trong tác phẩm có thể đều tạo ra một đường dây sự kiện riêng, một mạch truyện riêng. Tác giả giống như người ưa la cà, và cũng là người tinh thông mọi chuyện, vì vậy, hễ cần dừng lại để lý giải, cắt nghĩa thì dường như ngay lập tức điều đó sẽ được làm sáng tỏ ngay. Thử lấy truyện Tướng về hưu làm minh chứng. Trong truyện ngắn này người đọc thấy có một loạt mạch truyện về các nhân vật có tên trong tác phẩm Chuyện về tướng Thuấn, liên quan đến nhân vật chính này là chuyện về vợ tướng, con trai của tướng, cô con dâu, hai bố con người giúp việc, ông em họ xa, cô cháu họ xa, thậm chí một kẻ tạt ngang câu chuyện như một vết nhơ như nhân vật Khổng ở xí nghiệp nước mắm - nhà thơ cũng được tác giả “trích ngang” mấy dòng đủ để hình dung về loại thi sĩ nửa mùa kém cỏi về nhân cách. Truyện Con gái thuỷ thần là ba truyện ghép lại theo cấu trúc rất rời rạc truyện thứ nhất, truyện thứ hai, truyện thứ ba. Đặc biệt hơn, truyện Những ngọn gió Hua Tát lại ghép từ 10 truyện, mỗi truyện đều có nội dung riêng, tình tiết riêng. Song, có một điều đặc biệt là, mặc dù truyện của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều sự kiện, mạch truyện như vậy nhưng vẫn là truyện ngắn với những yêu cầu nghiêm nhặt của thể loại, bởi những lý do sau thứ nhất, mỗi truyện đều lấy điểm tựa là một lát cắt tình huống cụ thể, một sự kiện chính gắn với một nhân vật trung tâm. Mọi vấn đề xoay xung quanh tình huống chính ấy dù phức tạp và rối ren đến mấy cũng là thành phần nằm “ngoài cốt truyện”. Cái “lõi” thực của cốt truyện vẫn rất đơn giản. Chẳng hạn, truyện Tướng về hưu là tình huống tướng Thuấn sau bao năm trận mạc về nghỉ hưu tại quê nhà. Trong những ngày được tiếp cận với cuộc sống đời thường, vị tướng được chứng kiến thực tiễn của thời mở cửa cơ chế. Tình huống của truyện Sang sông là đứa bé tinh nghịch đút tay vào chiếc bình cổ. Tình huống của truyện Thương nhớ đồng quê sự kiện cô cháu họ xa về thăm quê. Trước mắt cô gái từ bé đã sống ở thị thành, từng du học bên Mỹ, con người và đồng quê Việt Nam thật là một thế giới mới lạ đối với cô. Nhâm, người có nhiệm vụ đón cô gái, đồng thời là “hướng dẫn viên” giúp cô tìm hiểu về con người và cuộc sống nơi đây Theo phong cách kết cấu cốt truyện của Nguyễn Huy Thiệp là Phan Thị Vàng Anh và Nguyễn Ngọc Tư. Truyện ngắn Mười ngày của Phan Thị Vàng Anh cũng được cấu trúc “rời” như vậy, từng ngày một, đúng mười ngày, mười mẩu chuyện nhỏ về diễn biến tâm lý của một cô gái chờ đời người yêu về quê nghỉ tết trong mười ngày. Hàng loạt các truyện Đất đỏ, Khi người ta trẻ, Si tình, Hoa muộn được đánh số các phần. Toàn bộ truyện ngắn được “ghép” từ các mẩu chuyện nhỏ. Người đọc có cảm giác, việc kết thúc hay kéo dài truyện hoàn toàn nằm trong “ngẫu hứng” của tác giả. Sự trễ nải của mạch truyện nằm trong ý đồ của người viết, cũng là một phần tư tưởng của truyện. Như vậy, khi “cài” các đường dây sự kiện xung quanh sự kiện, tình huống chính, tác giả đã mở rộng phạm vi tiếp cận và phản ánh hiện thực. Kiểu truyện lồng trong truyện thể hiện cách nhìn vừa bao quát song cũng thật cụ thể, một cái nhìn đa diện, đa chiều về cuộc sống và con người. Truyện giả thể loại giả ngụ ngôn, giả cổ tích, giả truyền thuyết, truyện truyền kỳ… Giả thể loại cũng là một xu hướng làm mới dạng thức của truyện ngắn sau 1975. Các dạng thức như ngụ ngôn, cổ tích, truyền thuyết, về mặt hình thức có dáng vẻ giống truyện ngắn dung lượng ngắn, chỉ viết về một chuyện và về một vài nhân vật, phạm vi không – thời gian hẹp. Điểm khác biệt lớn nhất giữa truyện ngắn hiện đại với các loại hình truyện dân gian trên là, truyện dân gian không cần quan tâm đến lô gíc hoặc tính xác thực của câu chuyện. Ý nghĩa của truyện đã được định hướng sẵn và sẽ đạt tới mục đích như ý muốn. Đặc biệt, yếu tố huyền thoại kỳ ảo tham gia như một nhân tố chính, nếu không nói là bắt buộc của quá trình sáng tạo truyện. Chẳng hạn, trong truyện ngụ ngôn Trí khôn của ta đây, con hổ biết nói tiếng người, hiểu tiếng người nên bị anh nông dân lừa; Truyện Thánh Gióng với việc Thánh Gióng cởi áo giáp bay về trời; Truyện Nỏ thần với việc Thần Kim Quy hiện ra giác ngộ cho nhà vua và rẽ nước dẫn nhà vua xuống thuỷ cung; Truyện Trầu cau, có việc ba người chết đi hoá thành trầu, cau và đá vôi; Truyện Tấm Cám lại có rất nhiều lần hoá phép Tấm hoá thành chim vàng anh, thành quả thị, thành khung cửi, Một số cây bút hiện đại muốn “mượn” lại hình thức dân gian này để “lạ hoá” nội dung câu chuyện định kể. Hình thức “mượn” thứ nhất là “mượn” chi tiết. Các tác giả dùng các chi tiết mang tính huyền thoại kỳ ảo tham gia vào đường dây tổ chức cốt truyện để tạo sức lôi cuốn hoặc đó chính là cách để tác giả tôn vinh hay phủ định theo cách của dân gian. Song, để yếu tố huyền thoại có chỗ đứng, các tác giả đã tìm ra giải pháp lời đồn, nghe phong thanh, có người kể lại, hoặc dùng hình thức “giấc mơ”, có khi cũng nói thẳng “truyền thuyết huyễn hoặc” Chẳng hạn như các chi tiết “có người kể rằng khi lửa bốc cao thì trong quán có con chuột to bằng bắp chân người phóng thẳng ra ngoài cứ cười hềnh hệch” để ám chỉ việc chứa chấp những việc làm phi nhân tính của lão trùm Thịnh trong truyện Chảy đi sông ơi; Chi tiết hoa Tử huyền ba mươi năm nở một lần, ai may lắm mới bắt gặp như một phần thưởng cho ông Diểu, khi ông thả con khỉ bị thương ra, nồng nỗng trở về tay không sau chuyến đi săn trong truyện Muối của rừng; Chi tiết nhóm thợ được đi trên cầu vồng bảy sắc trong truyện Những người thợ xẻ cũng là cách bày tỏ thái độ khen ngợi những con người có cái tâm thiện theo cách ứng xử dân gian; Chi tiết hôm Nguyễn tức Nguyễn Trãi ngỏ lời cầu hôn Thị Lộ. “Đồn rằng hôm ấy có rồng bay trên sông cái” trong truyện Nguyễn Thị Lộ cũng bày tỏ thái độ ngưỡng mộ cặp “trai anh hùng gái thuyền quyên” mà số phận bi ai hiếm có trong lịch sử. Song chi tiết Đặng Phú Lân bị chém vì chính thanh kiếm gia truyền nên máu không đỏ mà trắng trong truyện Kiếm sắc lại mang thông điệp khác, sự oan nghiệt của số phận; Hình tượng Mẹ cả trong truyện Con gái thuỷ thần mang thông điệp về sức hấp dẫn của niềm tin, của chân lý hoặc lý tưởng, đôi khi là ảo ảnh. Giấc mơ của cô cháu gái trong truyện Hồn trinh nữ của Võ Thị Hảo cũng là một cách bộc lộ quan niệm về vẻ đẹp của tình yêu gắn với nghĩa vụ công dân trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm. Hình thức “mượn” thứ hai là “mượn” lối viết. Những câu chuyện hư cấu và tưởng tượng hoàn toàn song lại mượn lối viết “chép lại”, có căn cứ, có tài liệu, có địa chỉ cụ thể, thậm chí còn dựng “gia phả” dòng họ kiểu như Nguyễn Huy Thiệp viết Giọt máu, Phẩm tiết, Kiếm sắc, Nguyễn Thị Lộ, Chút thoáng Xuân Hương Với cách viết này, tác giả vừa làm sống lại những thông tin lịch sử khô khan, vừa tạo sắc thái hư hư thực cho những câu chuyện “bịa đặt” thêm phần hấp dẫn. Sự vận động đổi mới ở phương diện trần thuật Trong quan điểm thi pháp thể loại hiện đại, trần thuật có vai trò như là khâu then chốt thể hiện sự cách tân của một tác phẩm, một nền văn xuôi. Nền văn học nào sớm có những khám phá đổi mới ở phương diện này được coi là nền văn học đi tiên phong trên hành trình hiện đại hoá văn học. Một trong những phát kiến vĩ đại của nhà bác học Nga Baktin là đã dùng khoảng cách trần thuật để phân biệt bản chất thể loại của sử thi và tiểu thuyết một cách rõ ràng, khoa học và chính xác nhất. Dấu hiệu khởi sắc theo hướng hiện đại hoá nền văn học Việt Nam nói chung, mà trước hết là ở thể loại truyện ngắn cũng thể hiện rất rõ nét ở phương diện trần thuật. Sự đa dạng, phong phú, biến hoá của trần thuật đã đem lại cho truyện ngắn sau 1975 những biến hình mới, sinh động và thực sự hấp dẫn. Trần thuật từ nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ, hay trần thuật “nhập vai” Trần thuật từ nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ, hay trần thật “nhập vai” là để chỉ cách trần thuật linh hoạt khi vai trò “phát ngôn” được trao cho nhiều người, nhiều đối tượng trong tác phẩm. Không còn chỉ có một người kể chuyện mà nhiều người kể. Trước một vấn đề, một sự việc nào đó, vì được soi rọi bằng nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ nên sẽ hiện ra bằng diện mạo, hình thù khác nhau dẫn đến nhiều luồng dư luận, nhận xét khác nhau, thậm chí ngược nhau, do các điểm nhìn khác nhau về tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, học vấn, đôi khi là thói quen, sở thích văn có xu hướng đổi mới trần thuật sớm nhất cho nền truyện ngắn sau 1975 là Nguyễn Minh Châu. Trong truyện ngắn Bức tranh, tiếp đó là hàng loạt truyện ngắn khác của ông như Chiếc thuyền ngoài xa, Cơ giông, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau đều có cái nhìn đa chiều, trong xu hướng đối thoại này. Chẳng hạn, trước số phận cực nhọc, cam chịu của người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu để cho nhiều “cái nhìn” soi rọi vào Cái nhìn trẻ thơ trong sáng của đứa con trai khi nó kết án ông bố tàn bạo và thề sẽ giết chết ông ta. Nhưng đứa chị thì hiểu biết hơn, vừa khóc lóc vừa ngăn nó lại. Nhà nhiếp ảnh thì sẵn sàng “giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”. Viên thẩm phán thì khăng khăng giải pháp ly hôn là đúng đắn nhất để cứu người đàn bà. Nhưng người đàn bà, kẻ hứng chịu tất cả những trận đòn tàn nhẫn và phi lý của chồng thì nhìn nhận khác hẳn “Lòng các chú tốt nhưng các chú không hiểu hết cuộc sống sông nước”. Cuộc sống ấy không thể thiếu bàn tay chèo chống của một người đàn ông và ý nghĩa của người đàn bà là phải vì con cái mình. Từ Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Khải và đặc biệt đến Nguyễn Huy Thiệp, cách trần thuật từ nhiều điểm nhìn đã đạt đến đặc sắc. Để tạo ra sự bình đẳng cho các điểm nhìn, tác giả - người kể chuyện không làm thay nhân vật mà chỉ đóng vai trò “dàn dựng” lại sự việc. Thậm chí sự “dàn dựng” này như được làm một cách ngẫu nhiên. Chẳng hạn, đoạn kể về cha con tướng Thuấn bàn bạc việc gia đình “…Cha tôi bảo “Nghỉ rồi, cha làm gì?” Tôi bảo “Viết hồi ký”. Cha tôi bảo “Không!” Vợ tôi bảo “Cha nuôi vẹt xem”. Trên phố dạo này nhiều người nuôi chim hoạ mi, chim vẹt. Cha tôi bảo “Kiếm tiền à?” Vợ tôi không trả lời. Cha tôi bảo “Để xem đã!”[8, 19]. Hoặc một cảnh khác “Tôi cũng không hiểu tại sao hai đứa con gái của tôi ít gần ông nội. Tôi cho chúng học ngoại ngữ, học nhạc. Chúng lúc nào cũng bận. Cha tôi bảo “các cháu có sách gì mang cho ông đọc”. Cái Mi cười. Còn cái Vi bảo “Ông thích đọc gì?” Cha tôi bảo “Cái gì dễ đọc”. Hai đứa bảo “Thế thì không có”. [8, 20]. Đọc Nguyễn Huy Thiệp có cảm giác, người kể chuyện không mấy khi thực hiện vai trò “kể” mà phần lớn chỉ thực hiện vai trò sắp xếp, tổ chức, nói đúng hơn, người “cắt dán” các cảnh lại với nhau với ý đồ trung thực nhất, ít chủ quan nhất bằng cách hạn chế thấp nhất sự tham gia của trữ tình ngoại đề. Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, nhiều lúc không tránh khỏi cảm giác thấy truyện rời rạc, lỏng lẻo, lan man. Tuy nhiên, người đọc được trải nghiệm nhiều cảm giác, suy nghĩ, được tranh luận và tự mình thấu nhận, rút ra những điều bổ ích. Và quan trọng nhất là tránh được cảm giác nhàm chán, đơn điệu trong cách tiếp cận tác phẩm. Trần thuật bằng dòng ký ức nội tâm Ngược với kiểu trần thuật “nhập vai”, trao vài trò kể chuyện cho nhiều người là kiểu trần thuật bằng “dòng ký ức nội tâm”. Với cách trần thuật này, mọi chuyện diễn ra trong dòng chảy ký ức hoặc dòng chảy nội tâm. Đây cũng là cách để tác giả “khách quan hoá” nội dung hiện thực trong tác phẩm hoặc tha hồ khám phá miền ẩn ức bên trong của tâm hồn con người. Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và hàng loạt cây bút trẻ mới xuất hiện gần đây như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Miêng, Trang Thanh, Trần Đức Tiến, Đỗ Hoàng Diệu đi theo xu hướng này. Truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư là dòng chảy miên man trong suy nghĩ của nhân vật Nương- cô gái tội nghiệp, nạn nhân của thái độ vô trách nhiệm của người lớn, của sự tan vỡ hạnh phúc gia đình. Trong truyện ngắn này ai cũng nói rất ít, phần lớn những câu đối thoại hay độc thoại đều được “dịch” thông qua những phán đoán suy nghĩ chứ không phải là những lời thoại trực tiếp. Qua ký ức của cô bé, tuổi thơ hiện về, ba, má, cuộc sống nghèo mà yên bình trong xóm nhỏ. Rồi những bất ngờ dữ dội xảy đến, má bỏ đi, ba hận má, hận cuộc đời, kế đó là những năm tháng trôi nổi, phiêu dạt như những kẻ cô đơn, lạc loài trong xã hội loài người cho đến khi tai hoạ thực sự rơi xuống đầu…Kết thúc truyện vẫn là những dòng ký ức đau nhói, hoà trộn xót xa vói ân hận, thức ngộ và đau đớn tột cùng “…Rồi ký ức ùa về kinh hãi, vẻ mặt má tôi hôm bị người đàn ông bán vải đo lên người hình như không phải là khoái lạc thăng hoa, nó giống như tôi bây giờ, đau ràn rụa, nhói tận chân tóc. Trời ơi sao tôi lại không nhận ra điều đó, ngay lúc ấy để giấu kín nỗi ám ảnh trong lòng, giả đò tươi cười với má, xem như không có chuyện gì, để chiều chiều cùng má ra sông, hỏi nhau, không biết chừng nào thì cha về [9, 212]. Miêng trong truyện Hải nữ, Trần Đức Tiến trong truyện Miền cực lạc còn sáng tạo ra kiểu “phân thân” giữa linh hồn và thể xác để đi du ngoạn trong thế giới thầm kín, riêng tư nhất của nhân vật. Trong thế giới ấy, người ta như là một con người khác, nhiều khi khác biệt hoàn toàn với con người thường ngày. Con người hàng ngày của ông P là một con người bình thường hết sức, bình thường đến mức không gây một chút chú ý nào cho ai, ông lại có tính hay đỏ mặt. Nhưng khi ông tự tách linh hồn ra khỏi thân xác và linh hồn ông tự do phiêu diêu thì linh hồn ấy có thể làm những chuyện không thể tưởng tượng nổi. Ông P luôn luôn đi thực hiện những chuyến gặp gỡ, hẹn hò bí mật với những người đàn bà mà ông thích hoặc muốn một á hậu xinh đẹp, một cô thợ may mà ông thấy gần gũi, có lúc còn lạc vào nhà thổ như với cách thể hiện này, tác giả muốn chứng minh, trong con người ta ai cũng có hai con người. Một con người với thân xác hiện hữu cùng với muôn mối ràng buộc của nghĩa vụ và trách nhiệm và một con người bên trong thầm kín với những suy nghĩ, việc làm chỉ mình mình biết. Con người bên trong ấy có đời sống riêng và luôn tìm cách chống lại con người cụ thể với thân xác hiện hữu. Phải chăng, đó cũng là nhận thức và khám phá về sự phức tạp của con người. Kiểu trần thuật dòng ký ức thường được những cây bút trẻ khai thác, có lẽ vì nhu cầu khám phá, nhất là khám phá bản thân luôn là nhu cầu của lứa tuổi này. Gián cách thời gian trần thuật Gián cách thời gian trần thuật là cách mà Nguyễn Thị Minh Thư đã sử dụng trong truyện ngắn Có một đêm như thế. Cùng một lúc tác giả cho xuất hiện ba lớp thời gian nhưng không phải kiểu thời gian đồng hiện hoặc liên tưởng của ký ức. Tuy nhiên, cách trần thuật này dường như không mấy thông dụng, bởi không có nhiều người lựa chọn lối viết gián cách này. Có lẽ cách viết này có cái khó riêng không dễ áp dụng hoặc sáng tạo. Sự vận động đổi mới ở phương diện ngôn ngữ Với tư cách là công cụ của tư duy, là “cái vỏ của tư duy”, sự biến đổi của ngôn ngữ văn học liên quan chặt chẽ đến sự biến đổi của tư duy văn học. Vì vậy, sự xác định tiêu chí cho vấn đề này không dễ. Chẳng hạn, nhiều người đánh giá cao bước phát triển của ngôn ngữ văn xuôi hiện nay thí dụ nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong lần nói chuyện với cán bộ, sinh viên khoa Ngữ văn- ĐHSP Hà Nội ngày 16-4-1994 cho rằng; “Lớp trẻ đã có ngôn ngữ mới. Nguyễn Huy Thiệp là người thực sự cách tân ngôn ngữ truyện ngắn. Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh cũng thế”. Nhưng cũng nhiều người phản ứng, hoảng sợ, họ thấy văn Nguyễn Huy Thiệp “dung tục”, “kinh tởm”, văn Phạm Thị Hoài là văn của người “nhìn đời Việt Nam bằng con mắt Do Thái và văn viết bằng tiếng của ý kiến của tác giả Triệu Minh về Phạm Thị Hoài trên văn ghệ số 2- 1996. Tiếng Việt trong sáng nhờ được mỹ lệ hoá hay chính xác hoá, nhờ sự khu biệt hay khả năng hội nhập? Những vấn đề này cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Ở đây, chỉ nêu một số đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật thấy đổi khác so với giai đoạn trước 1975. Ngôn ngữ đời thường- gia tăng tính khẩu ngữ Trong văn xuôi, bước đổi thay của ngôn ngữ lúc đầu gắn với nhu cầu “được nói thật”. Sự cổ vũ của Đảng “nhìn thẳng và nói thật” cho phép nhiều tác phẩm chống tiêu cực ra đời. Ngôn ngữ văn xuôi bắt đầu bớt đi vẻ trang trọng, ít du dương, ít rào đón mà gần gũi với đời thường, chân thật trong giọng điệu, thô nhám trong từ ngữ. Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp như một hiện tượng “lạ”. Ngoài khả năng biến ảo của một bút pháp đa dạng, đa tầng, tác giả này còn gây cú sốc thực sự cho ngôn ngữ văn học. lối nói “cộc lốc”, sắc bén và hàm súc, câu văn ngắn gọn, dồn dập, hạn chế tối đa các liên từ, nén năng lượng làm rung chuyển lối văn mực thước, trang trọng hoặc rào đón, đưa đẩy. Ngòi bút tác giả này như không hề biết đến những gửi thưa kiểu cách, những nghi thức nhiều khi rất nhiều khách sáo, mặc nhiên khẳng định tư thế bình đẳng, dân chủ giữa con người với con người. lối văn đó phù hợp với cái hiện thực đời thường mà anh mô tả. Chẳng hạn, tác giả tả đám cưới của anh chàng lái xe bò kết hôn với cô mẫu giáo con ông vụ phó “đám cưới ngoại ô lố lăng và khá dung tục. Ba ô tô. Thuốc lá đầu lọc nhưng gần cuối tiệc hết sạch, phải thay bằng thuốc lá cuốn. Năm mươi mâm cỗ nhưng ế mười hai. Chàng rể mặc com lê đen, cravát đỏ. Tôi phải cho mương cái cravát đẹp nhất trong tủ áo. Nói là mượn nhưng chắc gì đòi được. Đầu tiệc là dàn nhạc sống chơi bài Ave Maria. Một anh cùng hợp tác xã xe bò thằng Tuân nhảy lên đơn ca một bài khủng khiếp…” [8, 22] Cùng với Nguyễn Huy Thiệp và trong không khí dân chủ cởi mở của xã hội, xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ. Họ ít bị ràng buộc bởi những tín điều đạo đức, luân lý, vừa tự tin vào mình, vừa nhiều hoài nghi đối với cuộc đời. Họ sử dụng văn chương để bộc lộ “cái tôi” cá tính là chính, nên họ quan tâm hơn đến vấn đề “viết như thế nào”. Phạm Thị Hoài quan niệm “viết như một phép ứng xử”. Và trong quan niệm ấy, nhà văn nữ này chọn phép ứng xử không tiếp tục thứ văn chương “đặc sản dành riêng cho những người sành ăn” như văn chương Nguyễn Tuân mà chọn hướng văn chương “gia tăng tính khoa học, tốc độ và khả năng biểu đạt tư duy hình tượng của nó”. Có thể nói, chưa bao giờ văn chương gần với ngôn ngữ sinh hoạt – thế sự đến thế. Chưa bao giờ những câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần trụi xuất hiện nhiều đến thế. Để chống lại lối văn chương nhiều tính hành chính khô khan hoặc du dương thi vị nhưng ít cá tính, ngôn ngữ truyện ngắn dung nạp rất nhiều khẩu ngữ, cố tính coi thường cú pháp, “nhại” lại mọi ngôn ngữ kiểu cách. Chẳng hạn “Man Nương, tôi gọi em như vậy những buổi chiều bốn mét nhân bốn mét rưỡi nhân hai mét tám màu xanh lơ trong căn phòng trống rỗng tầng ba có hai nhành xanh một thứ cây nào đó tôi không bao giờ biết tên” Man Nương- Phạm Thị Hoài. Hoặc “Chức cách đây mấy hôm tthấy chạy xe vèo vèo ngoài ngã ba chở một đứa con gái bé như cái kẹo, không ôm iếc gì cả nhưng nhìn thì biết ngay là bồ bịch” Hoa muộn- Phan Thị Vàng Anh; “Cái lão Khúng này thiết đếch gì! Sao với chả trăng! Cho cái mặt trời ông cũng đếch thiết nữa là!...” Phiên chợ Giát- Nguyễn Minh Châu; “…thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh còn nhớ thượng tướng Th không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ đổi con Tuýt lấy một cặp bẹc giê Sibêri đấy. Ồ xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi”Con thú bị ruồng bỏ- Nguyễn Dậu Ngôn ngữ tăng cường tính tốc độ, thông tin và triết luận Nhu cầu gia tăng tính tốc độ và thông tin đặt ra như một đòi hỏi chính đáng và tất yếu ở thời đại “bùng nổ thông tin”, thời đại của công nghệ kỹ thuật cao, liên quan đến nhịp sống hiện đại, nhất là nhịp điệu của cơ chế thị trường. Tính tốc độ thể hiện ở cách vào truyện nhanh, diễn đạt ngắn gọn, nén thông tin. Ở phương diện ngôn ngữ, có thể nhận thấy việc sử dụng các “điển cố” hiện đại như các thuật ngữ khoa học chuyên ngành, thậm chí cả tiếng nước ngoài vào trong diễn đạt, chẳng hạn “chuỗi xoắn kép, đột biến, bức xạ nhiệt, đồ thị hyperbol, the end of something cụm từ này thay thế cho rất nhiều lời diễn giải. Nhiều khi, một thứ ngôn từ ước lệ, “hàm súc” và nhiều ngụ ý bắt nguồn từ sinh hoạt giao tiếp hiện đại, nếu được sử dụng đắc địa, nó vừa như một hình thức phổ biến của khẩu ngữ Việt Nam, mang đậm dấu ấn lịch sử, tâm lý, vừa chuyển tải được thông tin lớn. Thí dụ “Bản nhạc đánh theo kiểu nội địa” Chuyện thày AK. Kẻ sĩ Hà Thành. “Nào hết cấm vận đến nơi, nào kinh tế thị trường quốc tế, nào liên doanh thương mại thế mạnh” Đất xóm chùa- Đoàn Lê; “Đảm bảo không có chuyện Nguyễn Văn Mười Hai” Vũ điệu của cái bô- Nguyễn Quang Thân Lượng thông tin đạt đến mức tối đa nằm ở một thứ ngôn ngữ đa nghĩa, nhiều ngụ ý. Ngôn ngữ này là kết quả tất yếu của tính phức điệu, đa thanh trong tư duy tiểu thuyết. Mặt khác, ngôn ngữ đa nghĩa cũng là sản phẩm của hứng thú triết luận càng ngày càng nổi rõ trong văn xuôi. Văn Nguyễn Huy Thiệp đa nghĩa từ chi tiết đến tổng thể, nhiều sức gợi liên tưởng ra bên ngoài tác phẩm. Cái “phức tạp”, “nhiều tầng lớp” có được, một phần là nhờ ngôn ngữ đầy tính ẩn dụ, nhiều nghĩa, cho phép người đọc phát huy cao độ sức liên tưởng và kinh nghiệm cá nhân vào việc lĩnh hội nghệ thuật. Xin nêu một số ví dụ lời Đặng Phú Lân nói với Nguyễn Ánh về thanh bảo kiếm “Trước chúa công chỉ thấy đầu rơi dưới kiếm, bây giờ mới nhìn rõ kiếm, thế là sắp thanh bình thịnh trị rồi đó” Kiếm sắc; “Trời rất xanh. Giữa trời có đám mây trắng trông hệt dáng điệu một nhà hiền triết. Thoắt cái, gió xua mây đi, nhà hiền triết biến thành con chó xồm lớn”Nguyễn Thị Lộ- Nguyễn Huy Thiệp. Các tác giả có thiên hướng kiếm tìm ý nghĩa triết học nhân sinh qua diễn tả đời sống cụ thể. Điều đó đem lại cho các tác phẩm ý vị triết lý và giá trị phổ quát. Đáp ứng yêu cầu này, ngôn ngữ văn xuôi tất yếu sẽ bớt đi phần “kể”, phần “tả” và tăng phần triết luận, khái quát, nhà văn khi ấy sẽ hiện diện qua ngôn ngữ “trữ tình ngoại đề”. Ở Nguyễn Minh Châu, thường thấy như vậy “Rồi thì cũng như mọi người khác, tôi vẫn không thể đi trốn được số phận, tôi không thể đi trốn được khỏi cuộc đời mình một khi mà tôi còn sống”, “chiến tranh làm người ta hư đi hơn là làm người ta tốt lên”, “Nỗi đau mất mát trong lòng người đàn bà lắm khi chả khác nắm cỏ trong dạ dày loài nhai lại..”Cỏ lau. “Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi” Con thù bị ruồng bỏ - Nguyễn Dậu. Cùng với hình thức đã có nhiều thay đổi, ngôn ngữ của truyện ngắn ngày nay, linh hoạt, sinh động và giàu chất đời thường. Ba chục năm qua, nhìn lại ngôn ngữ của truyện ngắn nói riêng, văn xuôi nói chung đã hiện diện qua “các cuộc thí nghiệm”. Đã là thí nghiệm không tránh khỏi phiêu lưu. Tuy nhiên, “cùng với thời gian và độ chín của các tài năng, ngôn ngữ của truyện ngắn đã và đang đạt đến độ ngưng kết mới”. Kết luận Truyện ngắn Việt Nam trong vòng ba mươi năm qua đã đi trọn một chặng đường. Chặng đường ấy gắn liền với sự kiện chính trị trọng đại Đại hội VI quyết định cho công cuộc đổi mới toàn diện trên đất nước. Văn học thuộc lĩnh vực nhận thức xã hội thông qua cá nhân nhà văn nên không thể không chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của xã hội. Truyện ngắn sau 1975 tuy có khác nhiều so với truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 nhưng nó vẫn phát triển trên cái nền của những thành tựu truyện ngắn 1945 - 1975 đã đạt được. Ngay những nhược điểm, những hạn chế không thể tránh khỏi của giai đoạn trước cũng giúp cho kinh nghiệm nghệ thuật của giai đoạn sau rất nhiều. Nhìn tổng thể, sự vận động của truyện ngắn sau 1975 đã diễn ra giống như một cuộc nhận đường toàn diện và sâu sắc từ ý thức nghệ thuật đến hành vi sáng tạo, từ tư tưởng đến thi pháp. Sự vận động ấy hướng mạnh mẽ đến những nỗ lực cách tân nhằm đổi mới thể loại. Về mặt hình thức, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đổi mới rõ rệt nhất ở ba phương diện dạng thức cấu trúc cốt truyện, trần thuật và ngôn ngữ truyện. Những cách tân ở ba phương diện ấy đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho truyện ngắn Việt Nam, thể loại vốn được xem là thể loại “cái” của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn chủ biên 2006, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, H. 2. Nguyễn Đăng Mạnh, "Nói ngắn về truyện rất ngắn", Thế giới mới số 69/1993. 3. Nguyên Ngọc 1994, Truyện rất ngắn - tác phẩm nghệ thuật Lời giới thiệu tập 40 truyện ngắn chung khảo cuộc thi truyện thế giới mới, Nxb Hội nhà văn, H. 4. Lã Nguyên, "Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật", Tạp chí văn học, Số 2/1989. 5. Bùi Việt Thắng 2000, Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại học Quốc gia, H. 6. Hỏa Diệu Thuỳ, "Chặng khởi động trong hành trình truyện ngắn Việt Nam sau 1975", Tạp chí Văn học, Số 07/2011. 7. Hỏa Diệu Thúy, "Về một số khuynh hướng thể tài của truyện ngắn Việt Nam sau 1975", Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tháng 6/ 2010. 8. Nguyễn Huy Thiệp 2003, Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn học. 9. Nguyễn Ngọc Tư 2005, Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ.
Đang tải.... xem toàn văn Thông tin tài liệu Ngày đăng 31/03/2015, 1426 . XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN _________________ HOÀNG DĨ ĐÌNH (HUANG YITING NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 TRÊN TƯ LIỆU TRUYỆN NGẮN BA NHÀ VĂN NỮ . NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 TRÊN TƯ LIỆU TRUYỆN NGẮN BA NHÀ VĂN NỮ Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ Mã số 62 22 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC . trúc văn bản tự sự qua các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1995 2 003, Nguyễn Thị Thu Thủy với Luận án Tiến sĩ Ngữ văn về đề tài Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 iểm - Xem thêm -Xem thêm Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ, Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ, , CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT, 1 Tổng quan những thành quả nghiên cứu về Ngôn ngữ trần thuật., 2 Quan niệm về "trần thuật" và "ngôn ngữ trần thuật", 3 Quan niệm về "người trần thuật" và phân loại "người trần thuật", 4 Quan niệm về "điểm nhìn" và phân loại "điểm nhìn", 5 Quan niệm về Thời gian và các yếu tố liên quan, CHƯƠNG 2. NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ, 2 Người trần thuật với cấp bậc trần thuật và trong quan hệ với truyện, 3 Người trần thuật với mức độ được nhận biết trong truyện, 4 Người trần thuật trong quan hệ với tác giả tiềm ẩn, 2 Mối quan hệ giữa các yếu tố của điểm nhìn, 3 Mối quan hệ giữa điểm nhìn và nhân xưng, 4 Các phương thức làm thay đổi điểm nhìn, CHƯƠNG 4. THỜI GIAN TRONG TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ, 2 Tính chất thời gian “một chiều”, 3 Tính chất thời gian “đa chiều”, 4 Các phương thức biểu hiện thời gian trong văn bản, TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên, 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS PHAN TRỌNG THƯỞNG Thái Nguyên, 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn - Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên. - Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã trực tiếp giảng dậy trong suốt khoá học. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng, người thầy đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để luận văn có thể hoàn thành. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Trần Quốc Tuấn Nam Định đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Minh Nguyệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Mục lục Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài.................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề........................................................................................ 3 Những bài nghiên cứu, những ý kiến về những vấn đề khái quát của truyện ngắn sau 1975................................................................................. 3 Những bài nghiên cứu về tác giả.................................................... 7 Những bài viết về tác phẩm............................................................ 8 3. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu........................................................ 9 nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................... 9 Đối tượng nghiên cứu.................................................................... 9 4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 10 5. Đóng góp của luận văn.......................................................................... 10 6. Cấu trúc của luận văn............................................................................ 10 Phần nội dung Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt nam 1975- 1985 1. Bối cảnh lịch sử, xã hội........................................................................ 12 Tình hình đất nước sau chiến tranh...............................................12 Thống nhất về mặt nhà nước, khôi phục kinh tế, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội....................................................................................... 13 Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc............................................................. 14 2. Tình hình phát triển của văn xuôi......................................................... 15 3. Diện mạo của truyện ngắn.................................................................... 19 Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người......................................................................................................... 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Sự tiếp nối của những thế hệ nhà văn tài năng.............................35 Thành tựu của truyện ngắn.......................................................... 37 Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn việt nam 1975-1985 1. Những thay đổi về đề tài ở truyện ngắn sau 1975..................... ........... 41 Sự tiếp tục đề tài chiến tranh.......................................................... 41 . Sự xuất hiện và chiếm lĩnh của đề tài thế sự, đời tư..................... 51 2. Sự chuyển đổi cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn 1975- 1985..... 62 Chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư...... 63 Cảm hứng đạo đức giữ vị trí quan trọng....................................... 65 Sự trở lại của cảm hứng bi kịch............................................... ... 69 cảm hứng phê phán........................................................................71 Cảm hứng nhân văn.......................................................................72 Chương III Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật truyện ngắn việt nam 1975-1985 1. Đặc điểm kết cấu cốt truyện.................................................................75 Khái niệm và vai trò của cốt truyện..............................................75 Sự vận động trong việc xây dựng cốt truyện của truyện ngắn sau 1975....................................................................................................76 Các đặc điểm kết cấu cốt truyện................................................. 80 2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn 1975-1985............ 87 Các kiểu nhân vật mới ............................................................. 89 . Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật xây dựng nhân vật................................................................................................. 96 3. Nghệ thuật trần thuật...........................................................................103 Sự đa dạng về điểm nhìn trần thuật............................................ 103 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Sự đa thanh trong giọng điệu trần thuật..................................... 107 Phần kết luận.............................................................................. ........ 110 Tài liệu tham khảo ............................................................................ .. 113 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài 5 khẳng định thì giai đoạn sau 1975, đặc biệt từ đầu những năm 80 là thời kỳ chuẩn bị tích cực, là bước khởi động tạo đà cần thiết cho công cuộc đổi mới văn học. Có thể coi văn học giai đoạn 1975 -1985 là thời kỳ tiền trạm cho cái mới. Chính vì vậy, khi tìm hiểu tiến trình đổi mới của văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng không thể không tìm hiểu bước đầu xây nền đắp móng trong giai đoạn tiền đổi mới. Dẫu đó là sự chuẩn bị âm thầm nhưng rất tích cực và cần thiết, là bước tạo đà cho quá trình đổi mới văn học hôm ngắn không phải là thể loại duy nhất nhưng lại tập trung nhiều nhất những yếu tố của một nền văn học đang đổi mới như văn học Việt Nam sau đại thắng mùa xuân năm 1975. Chính những điều đó đã giúp tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. 2. Lịch sử vấn đề. Những bài nghiên cứu, những ý kiến về những vấn đề khái quát của truyện ngắn sau 1975. Trong bài “Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ sau 1975” Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn đề nghiên cứu và giảng dậy, Nxb Giáo dục, 2006, tác giả Nguyễn Văn Long nhận xét Từ 1975- 1985 là chặng đường chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến. Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương tiện nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học. Những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã giúp thu hẹp bớt khoảng cách khá xa giữa văn học với đời sống, tác phẩm và công chúng, đồng thời cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ của văn học khi bước vào thời kỳ đổi mới. Có thể coi đó là một nhận xét khái quát về đặc điểm của văn xuôi giai đoạn 1975- 1985, trong đó có truyện ngắn. Một thể loại luôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 luôn có mặt nhiều, khi lại nhận lãnh trách nhiệm dò lối, mở đường Vương Trí Nhàn ở những giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Đi sâu vào những vấn đề của thể loại truyện ngắn ở giai đoạn này, có nhiều ý kiến đánh giá trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Những năm liền ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, nền văn học cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo quán tính từ trong thời kỳ chiến tranh. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn bao trùm lên hầu hết các sáng nhiên, trong truyện ngắn và cả truyện vừa thấy rõ nét một hướng đi vào những khoảnh khắc thưòng nhật của chiến tranh, đi sâu hơn vào diễn biến tâm lý của nhân vật, vào những cảnh ngộ và xung đột nội tâm truyện ngắn cũng có ưu thế trong việc đặt nhân vật trong mối tương quan hôm qua và hôm nay, để làm nổi bật lên những vấn đề có ý nghĩa đạo đức nhân sinh Nguyễn Văn Long, “Văn xuôi những năm 1975-1985 viết về cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ”- Văn nghệ quân đội, tháng 4-1985. Cùng quan điểm với nhận định trên, tác giả Phan Cự Đệ trong văn học Việt nam 1975 -1985, Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà văn, 1997 cho rằng cách khai thác những vấn đề chiến tranh trong mối tương quan quá khứ - hiện tại như thế làm cho truyện ngắn của ta sau 1975 có một bước phát triển mới, ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu bạn đọc ngày càng tốt hơn. Bởi nó không dừng lại ở trực giác mà đi sâu vào tâm lý, tiềm thức. Nhà văn Nguyên Ngọc còn khẳng định vai trò hàng đầu của truyện ngắn trong quá trình tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt của văn học giai đoạn này. Theo Nguyên Ngọc, truyện ngắn hiện nay đang vượt qua tiểu thuyết. Nó sớm đạt đến tính khách quan xã hội cao hơn, nó đi thẳng vào vấn đề thân phận con người, thế giới bên trong của con người, ý nghĩa nhân sinh, lẽ sống, con người ở đời sâu và sắc hơn “Văn xuôi sau 1975 - thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển”, Tạp chí văn học số 4 -1991. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 Đó cũng là nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh khi ghi nhận công lao của truyện ngắn trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới văn học. Truyện ngắn mở ra những mũi thăm dò, khai thác và đặt ra nhiều vấn đề đạo đức thế sự nhanh chóng đạt đến một độ chín cả trong hình thức và nội dung mà tiểu thuyết còn chưa kịp đạt đến “Văn học Việt Nam hiện đại Nhận thức và thẩm định”, Nxb Khoa học xã hội, 2001. Thật ra, nhận định của hai tác giả về vai trò hàng đầu của truyện ngắn chỉ đúng trong tình hình văn học ở giai đoạn đầu những năm 80 khi văn học thực sự bước vào giai đoạn đổi mới. Điều này cũng được tác giả Phạm Mạnh Hùng thừa nhận trong cuốn sách “ Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX” Nxb Đại học quốc gia Hà nội, H, 1999 Truyện ngắn vẫn xuất hiện đều đặn trong các báo, tạp chí văn nghệ trong Nam ngoài Bắc với một số lượng không nhỏ. Trong khoảng 5 năm đầu của thời kỳ hoà bình, truyện ngắn vẫn tiếp tục những đề tài và chủ đề, phong cách, bút pháp và các giọng điệu như đã thấy trong văn học trước đó. Nhưng từ những năm 80 bắt đầu xuất hiện nhiều truyện ngắn có dấu hiệu mới về tư tưởng, về nghệ thuật. Theo tác giả, cái mới trong những truyện ngắn này là việc đi vào những đề tài mới của cuộc sống sau chiến tranh, hay vẫn viết về chiến tranh nhưng với cách nhìn mới với những mối quan tâm, suy tư, trăn trở mới. Số phận con người trong cuộc sống được chú ý khai thác ở góc độ không chỉ ở cái phi thường mà còn ở cả cái bình thường. Xu thế mới này ở truyện ngắn giai đoạn 1975 - 1985 được tác giả Bùi Việt Thắng khẳng định và lý giải truyện ngắn sau 1975 tập trung nghiên cứu hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh - đó là hiện trạng phức tạp và đa dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực. Tính chất phức tạp của đời sống tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu quả chiến tranh, của đời sống kinh tế khó khăn, của sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài vào. Nhìn chung các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 viết về sự thật. Chuyện đời thường vì thế nổi trội trong đa số truyện ngắn trong giai đoạn này, thậm chí đã hình thành một quan niệm văn học đời thường “Truyện ngắn - những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb Đại học quốc gia Hà nội, 2000. Về hình thức truyện ngắn 1975 - 1985 cũng có rất nhiều ý kiến. Tuy nhiên, mỗi ý kiến bước đầu đưa ra sự đánh giá về một hay một vài phương diện nghệ thuật. Tác giả Bích Thu trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975” Tạp chí Văn học tháng 9 - 1996 cho rằng trong một thời gian không dài truyện ngắn đã làm được nhiều vấn đề mà tiểu thuyết chưa kịp làm, đã tạo ra nhiều phong cách sáng tạo có giọng điệu riêng. Xét trong hệ thống chung của các loại hình văn xuôi, nghệ thuật truyện ngắn đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, trong cách nhìn nghệ thuật về con người và trong sáng tạo ngôn từ. Theo tác giả, truyện ngắn có xu hướng tự nới mở, đa dạng hơn trong cách thức diễn đạt… Có sự tác động, hoà trộn giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ người kể truyện. Lý giải về những thay đổi này, theo tác giả là do những biến động khác nhau trong đời sống xã hội, yêu cầu của thời đại, tính chất phức tạp của cuộc sống, sự đa dạng của tính cách con người, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng đòi hỏi nhà văn phải tìm tòi những phương thức thể hiện nghệ thuật tương ứng với một thời kỳ đang chuyển biến. Chính những nhu cầu mới của con người khiến các thể loại của văn học có sự vận động và phát triển mà trong đó truyện ngắn có vai trò quan trọng, là loại hình nghệ thuật đáp ứng nhanh nhậy những chuyển biến của văn học từ thời chiến sang thời bình khi quy luật chiến tranh đã hết hiệu lực. Tác giả Nguyễn Văn Long “Văn học việt nam sau 1975. Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy”. Nxb Giáo dục. H. 2006 khi đi sâu vào nghệ thuật trần thuật khẳng định từ bỏ sự áp đặt một quan điểm được cho là đúng đắn nhất vì đó là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết có thể đưa ra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và để có các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại. Bên cạnh đó sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một thời gian duy nhất là những nét mới trong nghệ thuật biểu hiện. Tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra một hiệu quả nghệ thuật mới để đáp ứng xu thế của thời đại. Nhà văn Ma Văn Kháng lại rất chú ý đến ngôn ngữ của truyện ngắn. Theo ông, đó là thứ ngôn ngữ vừa dung dị, vừa ma quái thêm, nó sử dụng đến sức mạnh tổng hợp của câu chữ “Truyện ngắn - nỗi run sợ”,Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tháng 7,1992. Nhìn một cách tổng thể, truyện ngắn giai đoạn 1975 -1985 có xu hướng vươn tới sự khái quát, triết luận về đời sống, kể ít tả nhiều và sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tái tạo đời thế, truyện ngắn ở giai đoạn tiền đổi mới này như một khúc chảy mạnh mẽ, tạo nên dòng chảy liên tục của truyện ngắn dân tộc suốt cả thế kỷ XX Bùi Việt Thắng “Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2000. 2. 2. Những bài nghiên cứu về tác giả Các tác giả được chọn nghiên cứu nhiều nhất giai đoạn này là Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Ma Văn Kháng. Bởi trong những điều kiện cực kỳ khó khăn của đất nước, sáng tác của họ đã đốt lên nhiệt tình tìm kiếm chân lý, báo trước khả năng tự đổi mới của nền văn học Việt Nam khi nó dám sòng phẳng với quá khứ bất chấp trở lực cản ngăn Lã Nguyễn, “Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật”, Tạp chí văn học số 2-1989. Tuy nhiên các tác giả Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng lại chủ yếu thành công ở thể loại tiểu thuyết. Với truyện ngắn, bên cạnh Nguyễn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 Minh Châu - người mở đường tinh anh và tài hoa - còn phải kể đến nhiều cây bút khác như Thái Bá Lợi, Nhật Tuấn, Xuân Thiều, Trung Trung Đỉnh, Bùi Hiển, Dương Thu Hương, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thành Long, Lê Minh Khuê... Những bài viết, những ý kiến đánh giá về các tác giả này rất nhiều. Đặc biệt đáng chú ý là các ý kiến đông đảo của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu, các nhà văn như Phong Lê, Vân Thanh, Tôn Phương Lan, Huỳnh Như Phương, Tô Hoài, Hoàng Như Mai, Hà Minh Đức, Trần Đăng Xuyền, Lê Thành Nghị, Trần Đình Sử, Trần Cương, Ngọc Trai, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thiếu Mai, Bích Thu, Vương Trí Nhàn... Hầu hết các ý kiến chỉ dừng lại ở mức độ phân tích đánh giá sự thành công của từng tác giả. ở giai đoạn đầu, có nhiều ý kiến đánh giá trái chiều nhau về cùng một tác giả, tiêu biểu là trường hợp của Nguyễn Minh Châu. Mặc dù hầu hết các ý kiến đều thừa nhận những đóng góp của Nguyễn Minh Châu trên hành trình đổi mới xong trong số đó vẫn còn ý kiến tỏ ra nghi ngại. Nhận xét một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, nhà văn Bùi Hiển băn khoăn về việc tác giả đẩy sự tìm tòi khám phá về nội tâm, tính cách về hình ảnh cuộc sống và ý nghĩa cuộc đời theo một hướng có vẻ phức tạp hơn nhưng chưa chắc đã là sâu sắc hơn Nhiều tác giả, “Trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu”, Văn nghệ 1985 số 27 và 28. Tác giả Hà Xuân Trường thì cho rằng ông chỉ thành công một nửa. Hay trường hợp của Dương Thu Hương, Lê Minh Khuê trong những truyện ngắn viết về những khía cạnh xấu của người đời có ý kiến cho rằng đã làm xô lệch đi vẻ tự nhiên bình thường của con người, dẫu đó là những mẫu hình tiêu cực trong đời sống chúng ta Bích Thu, “Truyện ngắn Dương Thu Hương. Tạp chí Văn học . số 2. 1983 nhưng lại có ý kiến ủng hộ cách viết này dù cho ngòi bút của tác giả ở đây thật đã đi đến những chỗ cùng cực trong cách miêu tả thậm chí là có phần ác quá. Song ta đã chấp nhận phong cách này, thì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 để cho nó đi hết sự phát triển vốn có, không dừng lại nửa vời Vương Trí Nhàn trong “Văn học 1975-1985- Tác phẩm và dư luận”, Nxb hội nhà văn, 1997. Đúng là ở chặng đầu của hành trình đổi mới, các tác giả của văn xuôi nói chung và các cây bút viết truyện ngắn nói riêng mới chỉ khoan những mũi thăm dò đầu tiên trên những vùng đất mới. Có mũi thăm dò thành công nhưng cũng không ít thất bại. Song những nỗ lực của họ đã được ghi nhận. Vì chính họ đã góp phần chuẩn bị để tạo ra một vụ mùa lớn của thể loại ở giai đoạn sau. Những bài viết về tác phẩm Trong khoảng 10 năm từ 1975 đến 1985 số lượng truyện ngắn in trên các báo quả là không nhỏ. ở đây chúng tôi chỉ điểm qua tình hình nghiên cứu một số tác phẩm được giải trên các tạp chí, các tập truyện có tác động không nhỏ đến diện mạo văn học giai đoạn này hoặc đánh dấu sự đổi mới trong sự nghiệp của các cây bút viết truyện ngắn. Có thể kể đến các tập truyện của các tác giả Nguyễn Minh Châu với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành 1983, Bến quê 1985; Xuân Thiều với Gió từ miền cát 1985; Dương Thu Hương với Những bông bần li 1981; Ma Văn Kháng với Ngày đẹp trời 1986; Lê Minh Khuê với Đoạn kết 1983, Một chiều xa thành phố 1986…và các tập truyện ngắn được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội Có một đêm như thế 1981, Thời gian 1985… Số lượng các bài viết này rất nhiều, đăng tải cả trên báo trung ương và báo địa phương dưới dạng thức điểm sách hoặc phê bình. Loại bài viết này phần lớn đều nêu lên những suy nghĩ, cảm nhận về nội dung hoặc nghệ thuật, về những phương diện đổi mới của từng truyện ngắn hay tập truyện ngắn cụ thể. Qua đó góp phần khẳng định xu thế đổi mới tất yếu của thể loại cũng như của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 Chung quy lại, qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu bao gồm các cuốn sách, các bài báo, các ý kiến trong các cuộc trao đổi, thảo luận, các cuộc hội thảo và một số luận văn, luận án đã có, chúng tôi thấy nhìn chung việc nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn sau 1975 đã lật xới lên được nhiều vấn đề. Đã có những công trình nghiên cứu sâu sắc về một số vấn đề như tác giả, tác phẩm tiêu biểu cụ thể nhưng chủ yếu nghiêng hẳn về giai đoạn từ sau 1986, giai đoạn phát triển rực rỡ của truyện ngắn. Còn với truyện ngắn ở giai đoạn 1975- 1985, các ý kiến đánh giá chủ yếu ở dạng phác thảo sơ bộ, hoặc là những nhận định khái quát hay đi vào từng khía cạnh cụ thể của thể loại. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể sâu sắc những đặc điểm của truyện ngắn ở giai đoạn phôi thai của tiến trình đổi mới. Trên tinh thần tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đặt trọng tâm nghiên cứu vào việc khảo sát những dấu hiệu mới của truyện ngắn nói riêng đặt trong tiến trình phát triển của văn xuôi nói chung. 3. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn đi sâu tìm hiểu diện mạo và những đổi mới bước đầu của truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong quan hệ thống nhất giữa nội dung và hình thức biểu hiện. Từ đó thấy được sự vận động của truyện ngắn sau chiến tranh trong bức tranh chung của truyện ngắn hiện đại. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung khảo sát các truyện ngắn trong giai đoạn từ 19751985. Tuy vậy, truyện ngắn thực sự thay đổi là từ những năm 1980 trở đi. Hơn nữa số lượng truyện ngắn trong khoảng 10 năm này rất nhiều, luận văn sẽ không thể bao quát được hết. Để khoanh vùng phạm vi khảo sát, luận văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 thống kê, nghiên cứu những truyện ngắn của một số tác giả đã định hình và có thể xem là tiêu biểu cho xu hướng đổi mới; những truyện ngắn được giải thưởng trong các cuộc thi ở các báo trung ương, những tập truyện ngắn có tiếng vang hoặc gây dư luận trong quần chúng. Tuy nhiên đó cũng chỉ là sự khoanh vùng có tính chất tương đối để luận văn có thể tập trung hơn vào những vấn đề đổi mới của truyện ngắn trong một giai đoạn khá phong phú và phức tạp này. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau - Phương pháp thống kê, phân loại. - Phương pháp so sánh - Phương pháp phân tích, tổng hợp 5. Đóng góp của luận văn Luận văn cố gắng đi sâu làm nổi bật những dấu hiệu đổi mới của truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong cái nhìn tổng thể và toàn diện. Hy vọng luận văn sẽ góp phần vào việc nhìn nhận quá trình vận động của thể loại truyện ngắn trong đời sống văn học và là bước tạo đà, gợi mở cho việc nghiên cứu truyện ngắn ở những giai đoạn sau. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm ba chương Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. Chương II Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. Chương III Những đổi mới bước đầu về nghệ thuật truyện ngắn 19751985. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 Phần nội dung Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt nam 1975 - 1985 1. Bối cảnh lịch sử xã hội Tình hình đất nước sau chiến tranh Với thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975, đất nước đã thu về một mối, Nam - Bắc một nhà. Khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc về một nền tự do, độc lập phải trải qua ngót nửa thế kỷ chiến đấu kiên cường đã trở thành hiện thực. Chiến tranh khốc liệt đã qua đi, đất nước hào hứng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, ngay sau niềm vui chiến thắng, cả dân tộc phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất. Đó là thời kỳ chúng ta lâm vào khủng hoảng sâu sắc về kinh tế, xã hội. Cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều bất cập đòi hỏi phải có sự đổi mới. Đất nước hoà bình nhưng cuộc sống lại vận hành một cách khó nhọc, nặng nề. ở miền Bắc, những cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ đã tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài. Gần như toàn bộ các thành phố thị xã đều bị đánh phá. Thậm chí có thị trấn bị phá huỷ hoàn toàn. Tất cả các khu công nghiệp đều bị đánh phá, nhiều khu bị đánh tới mức huỷ diệt. Với miền Bắc, dù chiến tranh đã chấm dứt sau hiệp đinh Pari năm 1973 nhưng do bị tàn phá nặng nề nên nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế đến giữa năm 1976 mới căn bản hoàn thành. ở miền Nam, việc tiếp quản các vùng mới giải phóng được tiến hành hết sức khẩn trương. Việc thành lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng các cấp nhanh chóng được thực hiện. Chính quyền cách mạng kêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 gọi những người từng làm việc trong bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền ra trình diện đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ ngoan cố chống đối. Các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội cũng được tiến hành khẩn trương. Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được sử dụng kịp thời vào công tác thông tin tuyên truyền cổ động. Những hoạt động trên ở hai miền Nam Bắc bước đầu đã ổn định tình hình khinh tế xã hội của đất nước ngay sau chiến tranh. Thống nhất về mặt nhà nước, khôi phục kinh tế, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ giành lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc đã hoàn thành. Nhưng về thể chế chính trị, chúng ta vẫn chưa có một nhà nước chung. Do đó yêu cầu hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước được đặt ra một cách bức thiết. Ngày 25- 4- 1976, cuộc tổng tuyển cử Quốc hội chung được tiến hành trong cả nước. Ngay sau đó Quốc hội khoá VI đã họp kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội. Quốc hội đã quyết định nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước trong thời kỳ mới. Từ đây, nhiệm vụ tiếp tục hoàn thành thống nhất đất nước trên các lĩnh vữc chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội sẽ gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam lần thứ IV nêu rõ Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó đã được cụ thể hoá trong hai kế hoạch nhà nước 5 năm 1976 1980 và 1981 - 1985. Việc thực hiện những kế hoạch này đạt được những kết quả nhất định tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Đời sống của đại bộ phận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 nhân còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều lao động chưa có việc làm. Nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về vật chất và văn hoá chưa được đảm bảo. Mặt khác các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một sổ cán bộ chưa bị trừng trị nghiêm khắc, kịp thời. Thực trạng kinh tế xã hội đó đã làm lay động dữ dội mọi suy nghĩ, niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân. Đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó. Hoà bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong. Nhiều người không chết trong nhà tù, trên trận địa trong chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã giành được tự do và độc lập [25]. Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Sau 30 năm chiến tranh liên miên, khi đất nước vừa được độc lập tự do, chúng ta lại tiếp tục đối mặt với những cuộc xâm lược mới. Từ tháng 5- 1975 đến 1977, tập đoàn Pôn Pốt- Iêng Xari đổ bộ xâm lược nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Chúng dần dần mở rộng thành cuộc chiến tranh lớn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta. Tuy nhiên, hành động của chúng đã bị quân dân ta ngăn chặn và làm thất bại năm 1978. Không những thế, chiến thắng biên giới Tây Nam của ta đã tạo thời cơ thuận lợi cho cách mạng Campuchia giành thắng lợi. ở biên giới phía Bắc, Trung Quốc đã có những hành động làm tổn hại đến tình cảm của hai nước như cho quân khiêu khích quân sự dọc biên giới, rút chuyên gia… Nghiêm trọng hơn, tháng 2 năm 1975, Trung Quốc đã mở cuộc tấn công nước ta dọc theo biên giới từ Móng cái đến Lai Châu. Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, quân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đã chiến đấu buộc Trung Quốc phải rút quân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 Chấm dứt hai cuộc xung đột biên giới phía Bắc và Tây Nam, nước ta đã bảo vệ toàn vẹn lành thổ và khôi phục, giữ vững tình đoàn kết hữu nghị hợp tác với các nước láng giềng. Có thể nói, bối cảnh lịch sử xã hội đất nước 10 năm sau chiến tranh có nhiều chuyển biến phức tạp. Điều này có tác động không nhỏ đến đời sống của văn học nước nhà. 2. Tình hình phát triển của văn xuôi Sự phát triển của một nền văn học nói chung, văn xuôi nói riêng bao gồm nhiều vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. ở đây chúng tôi chỉ đi vào lĩnh vực sáng tác của văn xuôi trong giai đoạn 1975 - 1985 để từ đó có được cái nhìn khách quan, tổng thể về diện mạo của truyện ngắn trong giai đoạn này. Với dân tộc Việt Nam, dấu mốc 1975 đánh dấu sự sang trang của lịch sử đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, từ cuộc sống với những quy luật không bình thường của chiến tranh sang cuộc sống bình thường, hàng ngày của nhân dân. Tuy nhiên, văn học lại không sang trang cùng lúc với lịch sử. Nền văn học về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật, những cảm hứng chủ đạo trong chiến tranh cho đến khoảng đầu những năm 1980. Điều này đúng với lý luận của Mác ý thức thường chậm hơn so với thực tại xã hội. Sự chạy theo quán tính này của văn học dẫn đến tình trạng mất độc giả. Sau chiến tranh, các nhà văn có điều kiện, có nhiều thời gian hơn để viết thì bỗng dưng cái mối quan hệ vốn rất thắm thiết máu thịt giữa văn học và công chúng, giữa sáng tác và người đọc lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi. Người đọc quay lưng lại với những sáng tác hiện tại. Đó cũng chính là khoảng thời gian mà Nguyên Ngọc gọi là khoảng chân không trong văn học. ở đó, âm không truyền đi được. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 Nền văn học chững lại, không ít người viết lâm vào tình trạng hoang mang, bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác. Nhưng dần dần họ cũng tìm ra nguyên nhân cuộc sống thay đổi rất nhiều mà văn học vẫn giữ nguyên bộ quần áo cũ. Đời sống hoà bình nhưng hoá ra lại phức tạp hơn trong chiến tranh rất nhiều. Bởi trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con người dồn lại trong một mối quan hệ duy nhất sống - chết. Tất cả những quan hệ đời thường, riêng tư bị đẩy lại phía sau, thậm chí bị triệt tiêu để hướng đến mục tiêu duy nhất chiến đấu để chiến thắng. Chính ngọn lửa chiến tranh đã thiêu cháy những sự nhỏ nhen, tính toán, bon chen của cuộc sống thường nhật. Nếu trong chiến tranh trăm người như một, đồng tâm nhất trí cho sự nghiệp chung thì hoà bình lại khác. Con người trở về với cuộc sống đời thường, đối mặt với những lo toan cá nhân, những mất mát trong chiến tranh, những khó khăn của cuộc sống kinh tế, mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa quyền lợi riêng và quyền lợi chung không hoàn toàn thống nhất như trước đây. Do đó tất cả đều cần một sự thay đổi mới để có một cách nhìn, một cách nghĩ mới với tinh thần trách nhiệm cao để đáp ứng được những điều kiện mà thực tế đặt ra. Trong những điều kiện lịch sử ấy, văn xuôi đầu năm 80 cũng đã trải qua những trăn trở cho một cuộc chuyển mình. Tuy nhiên sự vận động ấy còn do yêu cầu nội tại của chính nền văn học. Đó là sự phát triển của tư duy nghệ thuật ở một trình độ mới. Sự vận động của văn học giai đoạn này trước hết là ở khuynh hướng sáng tác, ở quan niệm về hiện thực và con người, ở phương thức tiếp cận và miêu tả thực tại. Đầu những năm 80 trong văn xuôi đã hình thành nhiều khuynh hướng khác nhau. Khuynh hướng sử thi, tiếp tục mạch chảy của nó trong sáng tác của nhiều nhà văn, đặc biệt ở đội ngũ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến. Nhiều cây bút văn xuôi hướng tới việc tạo dựng bức tranh toàn cảnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Thị Phương Thảo TRUYỆN NGĂN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VIẾT VỀ CHIẾN TRANH Chuyên ngành Lí luận văn học Mã số 62 22 01 20 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Hà Nội - 2016 1 Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội Người hướng dẫn khoa học Trần Khánh Thành Phản biện 1 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . Phản biện 2 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . Phản biện 3 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp ….. họp tại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . Vào hồi giờ ngày tháng năm 20... Có thể tìm hiểu luận án tại - Thư viện Quốc gia Việt Nam - Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 2 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN [1]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2013, “Diện mạo truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh của Nguyễn Minh Châu trong hai thời kỳ sáng tác”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật Quân đội, số 3 + 4, tr. 52 - 53 và 72. [2]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2014, “Truyện ngắn về chiến tranh qua các cuộc thi trên Văn nghệ Quân đội đầu thế kỉ XXI”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 810 và 81, tr. 162 – 167. [3]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Cảm hứng nhân bản trong truyện ngắn Việt Nam viết về chiến tranh sau 1975”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 839, tr. 91 - 96. [4]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Yếu tố giấc mơ và kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam đương đại viết về chiến tranh”, Tạp chí Lí luận Phê bình Văn học, nghệ thuật, số 44, tr. 60 – 64. [5]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Nhân vật người lính trong truyện ngắn Việt Nam đương đại”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 382, tr. 82 – 85. 3 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Hiện nay, những công trình nghiên cứu về đề tài truyện ngắn chiến tranh chưa nhiều. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn hoặc một mục nhỏ của công trình, các vấn đề được đặt ra rải rác,diện khảo sát thường hẹp về số lượng tác phẩm. Nghiên cứu truyện ngắn chiến tranh từ sau 1975 dưới một số góc độ nội dung và nghệ thuật, chúng tôi hi vọng sẽ đem lại cái nhìn tương đối toàn diện về mảng truyện ngắn này với nhiều giá trị đặc sắc còn tiềm ẩn. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích Trên cơ sở khảo sát nghiên cứu truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranhtrong sự so sánh đồng đại với truyện ngắn nói chung, với tiểu thuyết về chiến tranh…và sự so sánh lịch đại truyện ngắn chiến tranh giai đoạn trước 1975, luận án muốn tìm ra những đặc điểm, yếu tố kế thừa và cách tân của truyện ngắn khi viết về đề tài chiến tranh. Nhiệm vụ Qua việc tổng hợp tư liệu, luận án sẽ làm sáng rõ những vấn đề lí luận cơ bản về sự thay đổi tư duy nghệ thuật, một số yếu tố thi pháp đặc trưng thể loại truyện ngắn và phân tích cụ thể trong sáng tác về chiến tranh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng Một số phương diện quan trọng về nội dung, nghệ thuật, đặc điểm của truyện ngắn viết về chiến tranh nhìn từ thời bình. Sự thay đổi cách nhìn hiện thực, thế giới nhân vật đa chiều, những đặc sắc trong phương thức biểu hiện của truyện ngắn chiến tranh đương đại. 4 Phạm vi Luận án nghiên cứu những tác phẩm tiêu biểu trong các tuyển tập truyện ngắn hay về chiến tranh, truyện ngắn hay và đoạt giải Tạp chí Văn nghệ quân đội được tuyển chọn từ 1975 đến năm 2016. Bên cạnh đó là truyện ngắn về chiến tranh của các tác giả tiêu biểu nhưNguyễn Minh Châu,Bảo Ninh, Sương Nguyệt Minh, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Võ Thị Hảo, Trần Thanh Hà, Vũ Thị Hồng...Đồng thời, luận án cũng đề cập đến những truyện ngắn gần đây về chiến tranh trong phạm vi mà tác giả cập nhật được. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau phương pháp lịch sử- xã hội, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp loại hình, phương pháp nghiên cứu liên ngành 5. Đóng góp mới của luận án Qua việc tìm hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 về chiến tranh, luận án bổ sung một cách nhìn truyện ngắn đương đại. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn khảo sát tác phẩm, luận án đánh giá tác động của sự thay đổi bối cảnh hiện thực và tư tưởng, quan niệm nghệ thuật đến truyện ngắn về chiến tranh. Luận án chỉ ra những nét đặc trưng, kế thừa và cách tân trên một số phương diện nghệ thuật cơ bản của truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh cốt truyện, tình huống, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu. 6. Cấu trúc của luận án Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được tổ chức thành bốn chương như sau Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Hiện thực chiến tranh với những hướng tiếp cận mới 5 Chương 3. Các loại hình nhân vật chủ yếu Chương 4. Những phương thức nghệ thuật đặc sắc 6 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Đặc trưng thể loại truyện ngắn Khái niệm Một số đặc trưng của truyện ngắn hiện đại Phương thức chiếm lĩnh hiện thực của truyện ngắn không phải là hướng đến toàn bộ sự đầy đặn toàn vẹn như tiểu thuyết mà chỉ tập trung đặc tả một hiện tượng, một nét bản chất của con người, một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống. Truyện ngắn có đặc trưng riêng về dung lượng, kết cấu, cốt truyện, tình huống, chi tiết... Văn học chiến tranh- từ những góc nhìn Từ góc nhìn của một số tác giả nước ngoài và nhìn về phía văn học Mỹ Với một đề tài mang tính nhân loại, văn học về chiến tranh nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài giới thiệu ở Việt Nam. Qua đó có thể thấy nhiều vấn đề, quan điểm tương đồng và có ý nghĩa như bài học kinh nghiệm. Điểm nổi bật là khẳng định vị trí, sức hấp dẫn của đề tài chiến tranh và đặt vấn đề phải viết như thế nào để nói lên được tầm vóc của cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, tâm thế của con người trong và sau chiến tranh. Một số bài viết khác đề cập đến những sáng tác của những tác giả Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam cho rằng từ thập kỷ 1970 đến nay cuộc chiến tranh trở thành đề tài lôi cuốn nhiều người cầm bút ở Mỹ trên nhiều thể loại. Từ những ý kiến phê bình trong nước Dựa trên nhiều khuynh hướng lí thuyết với các tiêu chuẩn giá trị, sự đánh giá khác nhau, một hướng nghiên cứu phổ biến là đặt truyện ngắn về đề tài chiến tranh trong văn xuôi chiến tranh. Có thể thấy 7 mảng văn học viết về đề tài chiến tranh được nghiên cứu phê bình trên nhiều bình diện, tập trung vào vị trí của đề tài, lực lượng viết, sự thay đổi cách tiếp cận đề tài cho phù hợp với cuộc sống đương đại và cái nhìn dân chủ sau chiến tranh. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn sau năm 1975 viết về chiến tranh Những nghiên cứu về truyện ngắn sau 1975 nói chung Bên cạnh những bài viết khái quát, một số tác giả đi sâu vào vấn đề cụ thể như cảm hứng nữ quyền, truyện ngắn lịch sử, văn xuôi mạng…Những bài viết này thường xuất phát từ một vài phương diện để cắt nghĩa, giải mã những độc đáo trong sáng tác của một tác giả hay một tác phẩm, tập truyện nào số tác giả chọn cách tiếp cận truyện ngắn đương đại từ áp dụng các lí thuyết phê bình phương tây.. Các bài viết chủ yếu bàn về một số khía cạnh của truyện ngắn trong sự vận động của thể loại. Những luận án nghiên cứu truyện ngắn thường chọn một số vấn đề cơ bản để làm rõ, đó cũng là sự gợi mở cho các công trình nghiên cứu khác. Những đổi mới của truyện ngắn từ sauu 1975 về chiến tranh Một số nhà nghiên cứu chỉ ra những đổi mới về tư duy nghệ thuật biểu hiện qua đề tài, xây dựng nhân vật... Do khuôn khổ của bài viết nên các tác giả thường tập trung giải quyết một cách thấu đáo một số khía cạnh đổi mới của truyện ngắn chiến tranh. Đó cũng là vấn đề để ngỏ. Bên cạnh những bài phê bình đề cập trực tiếp đến truyện ngắn chiến tranh, cũng có một số nhà phê bình bàn về những tác phẩm, nhà văn cụ thể viết về đề tài chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Từ Nguyên Tĩnh, Xuân Thiều...Cách nhìn này đem đến sự quan sát nhìn cụ thể về những tác giả, tác phẩm xuất hiện trên văn đàn, không phải cái nhìn khái quát về truyện ngắn chiến tranh. Đó cũng là gợi ý cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này. Ngoài ra, bàn về văn xuôi nói 8 chung, truyện ngắn nói riêng về đề tài chiến tranh còn xuất hiện rải rác trong một số bài báo, tạp chí, luận văn khác nữa. Hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về truyện ngắn từ sau 1975 đến nay về chiến tranh . Tiểu kết Đã có nhiều công trình, bài viết trong hơn bốn mươi năm qua bàn về lí luận truyện ngắn, văn xuôi, và truyện ngắn chiến tranh trong xu thế đổi mới chung của nền văn học. Các bài viết chủ yếu bàn đến một vài khía cạnh hoặc điểm qua vài nét về đặc điểm của truyện ngắn sau 1975 về chiến là một vấn đề còn để ngỏ, gợi mở cho chúng tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 viết về chiến tranh. 9 CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VỚI NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật và cảm hứng sáng tác Sau 1975, cùng với sự đổi mới tư duy, quan niệm về hiện thực cũng thay đổi. Hiện thực chiến tranh và hậu quả của nó được nhìn nhận một cách toàn diện sâu sắc. Quan niệm nghệ thuật về con người ngày càng toàn diện, dần chuyển từ con người công dân, chính trị sang con người cá thể được khai thác ở nhiều bình hứng lãng mạn dần được thay thế bằng cảm hứng nhân bản, nhân văn. Chiều sâu bản thể và tâm hồn con người được khai thác với trí tuệ, tư tưởng, tình cảm, bản năng, ý thức và vô thức, tâm linh... Điểm nổi bật trong truyện ngắn chiến tranh thời gian này là khắc hoạ hình tượng người lính cả từ hai chiến tuyến. Từ khuynh hướng sử thi chuyển sang khuynh hướng thế sự, đời tư Giai đoạn kháng chiến 1945-1975 ở Việt Nam là thời điểm đặc biệt sản sinh và nuôi dưỡng nền văn học sử thi. Thành công của khuynh hướng sáng tác này là đã kết tinh thành những truyện ngắn làm nổi bật chân dung những anh hùng, người con ưu tú và cộng đồng với lý tưởng chung. Sau năm 1975, nhà văn không chỉ hướng đến những vấn đề lịch sử chính trị mà còn khai phá những mảng hiện thực mới đặt ra của cuộc sống thời bình. Văn học đương đại Việt Nam về chiến tranh thiên về khai phá những mặt còn khuất lấp, những vấn đề đời tư - thế sự, hướng đến cuộc sống đa trị và qua đó thể hiện cảm quan của nhà văn. Khám phá hiện thực, con người trong tính đa dạng, đa diện Biên độ hiện thực chiến tranh được mở rộng 10 Với tâm thế của người viết đương thời, biên độ hiện thực chiến tranh được mở rộng. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ tiếp tục được phản ánh. Cùng với đó, sự xuất hiện của nhiều truyện ngắn viết về cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, của quân tình nguyện Việt Nam ở Lào, Cămpuchia và biên giới phía Bắc những năm sau 1975 là sự bổ sung làm nới rộng biên độ hiện thực. Hiện thực chiến tranh được biểu hiện không chỉ là những thời điểm khốc liệt của các trận chiến- nơi bộc lộ cái cao cả và cái thấp hèn mà còn là hiện thực số phận con người cụ thể trong và sau chiến tranh. Khai thác đời sống bên trong của con người Trong truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh, nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực, con người thực với những điều hiện hữu, dễ nắm bắt, định danh mà còn khai thác thế giới vô thức giấc mơ, đan cài vào hiện thực là thế giới của những điều kỳ ảo và tâm linh để kiến tạo những ngả đường khác nhau đến với đề tài này. Chiến tranh không chỉ giản đơn là dòng hồi ức hay khoảnh khắc khó quên nào đó mà là những câu chuyện trong thế giới nhiều chiều, khó đoán biết. Nhiều truyện ngắn thấp thoáng thế giới ảo như Mười ba bến nước Sương Nguyệt Minh, Họ đã trở thành đàn ông Phạm Ngọc Tiến, Tiếng vạc sành Phạm Trung Khâu... Truyện ngắn chiến tranh khai thác con người với bản năng sống, trạng thái vô thức và tâm linh . Có thể thấy tinh thần đó trong nhiều truyện Giấc mơ kí ức Phan Đức Nam, Rửa tay gác kiếm Bảo Ninh, Bến đàn bà Nguyễn Mạnh Hùng, Những giấc mơ có thực Vũ Thị Hồng... Với đề tài chiến tranh, nhiều nhà văn hướng đến thế giới tâm linh để biểu đạt con người toàn diện hơn. Có thể nhận thấy điều đó trong nhiều truyện ngắn như Chuyến xe đêm Ma Văn Kháng, Tiếng chuông chiều Lê Hoài Lương, Bến trần gian Lưu Sơn Minh... Tuy nhiên, đó không phải là con đường duy nhất để khai thác đề tài chiến tranh. Việc miêu tả thế giới với những điều kỳ ảo, vô thức, tâm linh cũng cần đến một 11 nhãn quan tỉnh táo, chừng mực để tránh sa đà, dẫn tác phẩm tới “ly kỳ rùng rợn” hoặc cổ vũ mê tín dị đoan. Tiểu kết Từ sau giải phóng, truyện ngắn chiến tranh đã có sự bứt phá, thay đổi để tìm đến những hướng tiếp cận mới. Sự thay đổi hệ hình tư duy từ sử thi sang tiểu thuyết là bước ngoặt chi phối đời sống văn chương nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Từ đó thay đổi phương hướng sáng tạo, xây dựng nhân vật và tổ chức các thành tố của truyện. Chính vì vậy, trong hai thời kỳ lịch sử khác nhau, truyện ngắn đề tài chiến tranh mang diện mạo riêng. Điều này phản ánh tâm thức sáng tạo và tiếp nhận trong bối cảnh hiện thực cụ thể, phù hợp với lôgic vận động của đời sống văn học. Nhà văn đương đại đã chủ động tìm những ngả đường khác nhau mở rộng đường biên phản ánh hiện thực. Đề tài chiến tranh khi nhìn từ thời bình không còn giới hạn trong phạm vi hẹp cả về tư tưởng và trường phản ánh. Vì vậy, từ sau 1986, đặc biệt là những năm 90, truyện ngắn chiến tranh “nở rộ” với sự phong phú về số lượng, đa dạng về phong cách, mới mẻ và khách quan trong xử lý chất liệu chiến tranh. Hiện thực và con người dần hiện lên với bề rộng và chiều sâu, khác với tác phẩm giai đoạn trước. 12 CHƯƠNG 3 CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT CHỦ YẾU Loại hình học và loại hình nhân vật văn học Loại hình học Phương pháp tiếp cận vấn đề văn học theo loại hình giúp khu biệt một cách tương đối các hiện tượng trong mối quan hệ với hệ thống, tổng thể, từ đó đưa ra những nhận định theo nhóm có chung đặc điểm. Với vấn đề nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh, chúng tôi chọn hướng tiếp cận này như một cách thức để đưa ra những kiến giải về các kiểu nhân vật trong truyện ngắn đương đại về chiến tranh. Cách phân loại nhân vật theo loại hình Tuỳ theo tiêu chí phân loại khác nhau mà có thể tìm thấy những loại nhân vật có sự tương đồng về một mặt nào đó. Trong truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh, thế giới nhân vật rất phong phú đa dạng. Chúng tôi chọn cách phân loại nhân vật dựa trên tiêu chí vai trò của nhân vật trong tác phẩm kết hợp với tiêu chí giới tính, lứa tuổi, mức độ ảnh hưởng của chiến tranh đối với họ. Từ đó luận án tập trung khảo sát một số kiểu loại nhân vật chủ yếu được khắc hoạ đậm nét trong truyện ngắn chiến tranh đương đại. Các loại hình nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh Thế giới nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh Trong truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh, viết về chiến tranh khi nó đã kết thúc, có nhiều nhân vật ở mọi lứa tuổi, giới tính là những người của cuộc sống hoà bình, thường ngày. Họ hầu như không tham gia chiến tranh mà xuất hiện trong truyện với tư cách người kể chuyện, những nhân vật phụ làm bối cảnh cho tuyến truyện chính. 13 Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chọn và đi sâu khảo sát hai kiểu nhân vật tiểu biểu là người lính và người phụ nữ. Họ thường là nhân vật chính, nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Nhân vật người lính Nhân vật đa diện Trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, người lính được khắc hoạ đa chiều hơn với cá tính riêng, số phận đời tư, nhiều gương mặt khác nhau bên trong một con người. Đó là Trí Hai người trở lại trung đoàn – Thái Bá Lợi , vị tướng Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu? - Văn Chinh, Lâm Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều... Không còn là sản phẩm của tinh thần lý tưởng hoá cao độ, họ hiện lên với cả sai lầm, thiên kiến cá nhân, khoảnh khắc hèn nhát, bản năng lấn át lí trí... Việc nhà văn “đặc tả” con người ở nhiều chiều kích một cách khách quan dẫn đến sự xuất hiện của nhân vật “lưỡng diện”, “đa trị” trong văn học nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Nhân vật tự ý thức - Ý thức về hoàn cảnh của mình Người lính được xây dựng trong tâm thế tự ý thức về cảnh ngộ của mình để sống và vượt lên nghịch cảnh sau chiến tranh. Dù gặp những mất mát, thiệt thòi nhưng hình tượng người lính vẫn đem đến cho người đọc sự khâm phục, cảm động khi họ biết vượt qua những bi kịch cá nhân để khẳng định phẩm chất- lí tưởng sống của mình. Đó là Lực Cỏ lau- Nguyễn Minh Châu, “anh” Đêm nguyệt thực- Trung Trung Đỉnh, Thao Miền cỏ hoang- Trần Thanh Hà... Kiểu nhân vật này chiếm số lượng lớn, là sản phẩm tất yếu của sự đổi mới tư duy nghệ thuật. - Ý thức về sai lầm của mình để tự thú, sám hối 14 Tự ý thức còn là trạng thái tinh thần để con người chiêm nghiệm, suy ngẫm lại hành động của mình. Phần lớn họ là người lính bên kia chiến tuyến chúng tôi trình bày ở phần sau. Bên cạnh đó, có cả nhân vật tự thú là người lính cách mạng như “người khách” Hồn cát - Nguyễn Hiê êp, Lực Cỏ lau và hoạ sĩ Bức tranh của Nguyễn Minh Châu. Xây dựng nhân vật này thể hiện sự nhạy cảm của nhà văn về trạng thái tâm lí đầy ám ảnh của con người sau chiến tranh, dù đó là ai, đứng ở vị trí nào. Nhân vật cô đơn Bên cạnh và đối lập với kiểu nhân vật vượt lên trên nghịch cảnh là những nhân vật không dung hoà được với cuộc sống sau chiến tranh. Mang theo những điều còn mất từ chiến tranh, nhiều người rơi vào trạng thái cô đơn, lạc lõng giữa cộng đồngvà thời cuộc. Đó là tướng Thuấn Tướng về hưu- Nguyễn Huy Thiệp, Châu Bóng ma đói quê hương- Vũ Bão, Mộc Trại “Bảy chú lùn”- Bảo Ninh.. Môtip người lính cô đơn đã trở thành mẫu hình phổ biến trong văn học sau 1975, làm phong phú bức tranh chân dung người lính. Họ là sự phản chiếu đời sống sau chiến tranh. Nhân vật tha hoá Cùng với đổi mới tư duy và nhu cầu “nói thật”, hình tượng con người bị tha hóa đã xuất hiện nhiều trong văn học nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Bởi chiến tranh không chỉ là nơi khẳng định của những anh hùng mà còn là nơi phân biệt những kẻ hèn nhát, phản bội, nhỏ nhen. Sự biến chất, tha hoá này là vấn đề được khai thác trong cả tiểu thuyết và truyện ngắn như một vấn nạn cần phê phán và cảnh giác. Đó là Sức Anh Sức- Khuất Quang Thụy, Quang Cơn giông-Nguyễn Minh Châu, Lê Mãnh Nanh sấu- Sương Nguyệt Minh... 15 Người anh hùng, người lính dưới góc nhìn của nhà văn trở nên chân thực, sinh động hơn, bởi nó gần với đặc tính cố hữu của con người, không phải là một chiều thánh thiện. Nhân vật người lính bên kia chiến tuyến Cùng với sự thay đổi quan niệm về đề tài chiến tranh, về con người, trong văn học đã có cái nhìn khách quan hơn dành cho những người phía “đối phương”. Họ cũng chỉ là công cụ của kẻ xâm lược trong cuộc chiến, có thể bị hủy diệt bất cứ lúc nào vì toan tính của nhà cầm quyền, nhiều người bị xô đẩy vào cuộc chiến và rơi vào bi kịch. Đó là Phúc Thời tiết của ký ức- Bảo Ninh, John Smith Chú lùn thứ bảy- Lưu Sơn Minh, Huỳnh và Phấn Đất ấm- Đỗ Văn Nhâm...Nhân vật người lính “bên kia” còn được phác hoạ với vẻ đẹp nhân bản. Dù phải làm nhiệm vụ trong hàng ngũ địch nhưng họ cũng có cảm xúc, tình cảm, lòng trắc ẩn... như mọi con người bình thường. Đó là Benla Cây số 42- Dũng Hà, Xơn Ông Ba Rạch Đùng- Dương Đức Khánh... Hệ thống nhân vật này phản chiếu tư duy “nhận thức lại lịch sử” một cách khách quan, bao dung, nhân văn khi tiếp cận đề tài chiến tranh. Vì vậy, họ đã “điền vào” vào khoảng trống mà giai đoạn trước truyện ngắn còn để ngỏ. Nhân vật người phụ nữ Nhân vật phụ nữ thuỷ chung chờ đợi Môtip nhân vật phụ nữ thuỷ chung chờ đợi xuất hiện khá nhiều trong truyện ngắn chiến tranh từ sau 1975. Điểm chung của họ là chờ đợi thời gian quá dài, thậm chí hơn nửa đời người, họ vẫn luôn giữ mối chung tình với người đi xa dù có thể còn chưa một lời thề nguyền hẹn ước. Đó là Ân và Mật trong Hai người đàn bà xóm trại Nguyễn Quang Thiều, cô gái ở làng chiến khu Giếng trong – Lê Tuấn Hiển, Hai Mật Trên mái nhà người phụ nữ - Dạ Ngân.. Họ tạo thành hệ thống nhân vật “ vọng phu” nhiều dáng vẻ, điển hình 16 cho nhân cách, phẩm chất, cách ứng phó với cuộc sống sau chiến tranh của không ít phụ nữ Việt Nam. Nhân vật phụ nữ với bi kịch chiến tranh Truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh tiếp cận con người ở số phận cá nhân, người phụ nữ mang bi kịch mất con, trở thành người đàn bà goá bụa hoặc chịu thương tật di chứng chiến tranh,không được làm mẹ... Đó là người bà Nắng chiều- Thụy Anh, bà cụ Lăng Bến trần gian- Lưu Sơn Minh , mẹ của tôi Chuyện xưa kết đi, được chưa?- Bảo Ninh. Họ được tô đậm ở đức tính hi sinh, tình cảm sâu nặng, nghị lực kiên cường và cả sự yếu đuối vốn dĩ của giới nữ. Kiểu nhân vật này gắn với cảm hứng bi kịch, tinh thần dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật, truyện ngắn tiếp cận con người cả ở góc độ mất mát, bất hạnh trong cuộc sống do tác động của chiến tranh. Tuổi trẻ, nhan sắc, sức sống đã hao mòn bởi thời gian và chiến tranh cùng với nếp sống tình cảm, sự chi phối của dư luận cộng đồng khiến họ gặp nhiều trắc trở tình duyên và nhiều người thậm chí sống đơn độc phần đời còn lại. Con người mang theo khuyết thiếu, vết thương tâm hồn, tình cảm là một vấn đề lớn sau chiến tranh. Nhân vật phụ nữ tha hoá Trong cách tiếp cận hiện thực và con người đa diện, người phụ nữ còn được khắc hoạ khi bị chiến tranh kéo dài đẩy vào tình cảnh éo le, trở thành người bội bạc, chung chạ với nhiều người. Kiểu nhân vật này không có trong văn học giai đoạn trước. Tuy nhiên, cái nhìn trong truyện ngắn thời kỳ này với họ thường là bao dung bởi họ cũng là nạn nhân của chiến tranh, nhiều khi do hoàn cảnh, họ cũng có những khát khao rất đỗi thường tình của con người. Đó là nhân vật vợ Quang Rửa tay gác kiếm- Bảo Ninh, Diệu Nương Gió dại- Bảo Ninh, Diễm Thuý Đỉnh khói- Nguyễn Thị Kim Hòa, Thoải Thím Thoải- Hạnh Lê... 17 Soi chiếu qua thân phận người phụ nữ, truyện ngắn sau 1975 hướng đến tận những góc khuất thầm kín, khát vọng bản năng, những vấp ngã đời thường. Bên cạnh đó, họ vẫn toát lên đặc trưng nếp nghĩ, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Tiểu kết Nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh đương đại được thêm vào những chân dung, kiểu loại gắn với cái nhìn từ hoà bình. Nhân vật người lính thời kỳ này đã được tập trung thể hiện với tinh thần khách quan, nhân bản. Viết về sự đa dạng trong tính cách, những chấn thương, bi kịch là kết quả của lối tư duy nghệ thuật mới. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận kiểu nhân vật người lính anh hùng của giai đoạn trước mà là sự bổ sung, làm đầy đủ hơn loại nhân vật này. Bên cạnh đó, nhân vật phụ nữ là đối tượng được đặc biệt quan tâm trong văn học nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Nhìn từ hoà bình, chân dung họ hiện lên với những tổn thương đầy khắc khoải và cả những nhược điểm mang tính bảo thủ của người phụ nữ trong định kiến xã hội Việt Nam. Họ đáng được trân trọng, cảm thông bởi chiến tranh đi qua để lại những người phụ nữ với bi kịch lớn nhất là không có một gia đình trọn vẹn. 18 CHƯƠNG 4 NHỮNG PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC Tổ chức cốt truyện Khái niệm cốt truyện và vai trò của cốt truyện trong truyện ngắn Một số loại hình cốt truyện tiêu biểu Cốt truyện sự kiện - hành động Loại cốt truyện này chú trọng yếu tố “có chuyện”,biến cố, sự kiện, hành động của nhân vật phát triển tạo nên sự vận động của cốt truyện. Tuy nhiên, trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, dù truyện triển khai trên sự kiện, hành động là chủ yếu nhưng vẫn đan xen trong đó những chi tiết, tình tiết mới lạ, bất ngờ, biến cố liên tục tạo độ căng cho truyện, trình tự các sự kiện có thể bị đảo lộn chứ không nhất thiết trình bày theo trật tự trước sau như trong truyện truyền thống. Đồng thời, nhà văn sử dụng các yếu tố kỳ ảo, giấc mơ, tâm linh đan xen, kiểu truyện “giả thể loại” để biểu hiện cảm nhận của con người hiện đại về đời sống trong và sau chiến tranh. Nhiều truyện có kiểu cốt truyện này như Kẻ sát nhân lương thiệnLại Văn Long Còn, Mười ba bến nước Sương Nguyệt Minh, Hai mươi năm sau Hồ Phương. Cốt truyện tâm lý Sau năm 1975, kiểu cốt truyện này chiếm tỉ lệ lớn trong truyện ngắn, hướng đến thế giới hiện thực khó định hình và nắm bắt trong tâm hồn con người. Sự kiện được nhắc đến trong truyện không nhiều nhưng từ những chiếc “mắc treo” ấy, tác giả đã làm một hành trình xâm nhập, giãi bày những trạng huống cảm xúc diễn ra trong tâm hồn nhân vật trước hoàn cảnh, khám phá con người ở chiều sâu vô thức 19 và tâm linh trong và sau chiến tranh. Đây là kiểu cốt truyện của Bức chân dung của người đàn bà lạ Chu Lai, Dòng sông trinh nữ Sương Nguyệt Minh, Mỗi tháng có một rằm Lê Hoài Lương... Tiếp thu kiểu cốt truyện trữ tình, nhà văn đương đại vận dụng một cách nhuần nhuyễn và tinh tế trong cái nhìn hướng về số phận cá nhân con người sau chiến tranh. Cốt truyện dòng ý thức là một bước phát triển của cốt truyện tâm lý. Trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, loại cốt truyện này chưa đạt đến mức “điển hình” nhưng đã xuất hiện một số tác giả sử dụng như một phương tiện tìm kiếm những nhận thức mới mẻ, sâu sắc về thế giới bên trong của con người. Có thể gặp kiểu cốt truyện này trong Sám hối Phùng Văn Khai, Bến đàn bà Nguyễn Mạnh Hùng, Hoài vọng Văn Xương... Xu hướng tự do hoá cốt truyện Trong văn xuôi đương đại, người ta có thể nói đến sự “lỏng lẻo”, “thu nhỏ” cốt truyện, nhà văn không tuân theo nguyên tắc truyền thống để xây dựng cốt truyện. Một loại cốt truyện nữa tuy xuất hiện không nhiều nhưng cũng là thể nghiệm mới mẻ của nhà văn khi viết về chiến tranh, đó là cốt truyện mang yếu tố hậu hiện đại Chú lùn thứ bảy, Bến trần gian, Âm thanh của kí ức. Quan niệm mới trong văn học đương đại hướng đến một “hiện thực không hoàn kết”, không thể biết trước. Vì vậy, truyện ngắn chiến tranh có xu hướng chuyển đổi từ cách kết thúc đóng sang kết thúc mở và không có hậu, tạo ra sự bất ngờ, để lại nhiều dư âm, gợi mở. Việc tổ chức truyện ngắn với cốt truyện, đoạn kết một cách sáng tạo, độc đáo đem lại nhiều cách cảm nhận về đề tài chiến tranh, phù hợp với cảm thức của đời sống hiện đại. Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện Vai trò của tình huống trong truyện ngắn 20
1. Đặc trưng thể loại và cảm hứng sáng tác Giá trị của một truyện ngắn chính là sức dung chứa những ý tưởng lớn trong một “kích cỡ nhỏ” của tác phẩm. Một trong những tiền đề quan trọng làm nên thành tựu của văn học Việt Nam đó là hiện thực cách mạng khơi nguồn cho sự sáng tạo và là cảm hứng chủ đạo của nhiều tác phẩm văn chương. Truyện ngắn từ sau năm 1975 đã phản ánh rất rõ sự thay đổi của hiện thực cuộc sống, rõ nét nhất trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng… Nhận thức được điều này, khi tìm hiểu, tiếp cận truyện ngắn Việt Nam từ sau năm 1975, cần chú ý đến cảm hứng sáng tác của từng tác giả nói riêng và cảm hứng của thời đại nói chung. Khơi nguồn cảm hứng từ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là hiện thực cuộc sống được phản ánh qua cái nhìn của người nghệ sĩ. Đằng sau cái bức tranh bình minh trên biển đẹp tuyệt đích, hoàn mĩ ấy là sự thật tồi tệ, phũ phàng – cuộc sống của gia đình hàng chài một người đàn bà bị chồng hành hạ vô lí nhưng không bao giờ muốn từ bỏ kẻ độc ác ấy; những chiến sĩ nhiệt thành từng chiến đấu giải phóng miền Nam nhưng lại không thể nào giải thoát cho một người đàn bà bất hạnh. Còn trong truyện ngắn Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến là hiện thực cuộc sống thông qua nhân vật cô Hiền. Hình tượng ấy được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con của nó. Do vậy, cảm hứng chính của nhà văn trong tác phẩm này là khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội – cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai, như tác giả đã khẳng định “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng”. 2. Về không gian, thời gian nghệ thuật * Không gian nghệ thuật Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, văn xuôi thường viết về vấn đề đời tư, thế sự; không gian ở đó là không gian sinh hoạt đời thường. Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 cũng nằm trong dòng chảy chung của văn học nước nhà, thể hiện rõ nét trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. Họ viết về cuộc sống thành thị, nông thôn, về số phận con người trong thời đại mới. Vì thế ta thường thấy xuất hiện những không gian trong sinh hoạt đời thường. Đó là nơi để nhân vật hoạt động và tự thể hiện mình trong cuộc sống thường ngày. Cái không gian chật chội của một gia đình có năm đứa con trên một con thuyền lênh đênh trên biển những lúc sóng to gió lớn; cũng có lúc khổ đau đến tận cùng vì người chồng vũ phu “cứ ba ngày một trận nặng, năm ngày một trận nhẹ”. Thế nhưng người vợ ấy vẫn không chịu bỏ chồng theo đề nghị của người làm công lí vì nhiều lí do mà bà đưa ra hết sức thuyết phục. Nhưng xét đến cùng, trong không gian ấy con người bộc lộ đến cùng bản chất nhiều mặt tốt – xấu, thiện – ác, cao cả – thấp hèn, cách đối nhân xử thế của mình. Qua đó tác giả thể hiện cái nhìn về những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh. * Thời gian nghệ thuật Đọc truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, chúng ta dễ dàng nhận ra thời gian nghệ thuật ở trong tác phẩm là thời gian của quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó đan quyện vào nhau, gắn kết với nhau để con người thể hiện mình, từ đó làm nên giá trị, ý nghĩa của tác phẩm. Điều đó thể hiện rõ nét qua hình ảnh cô Hiền – một người Hà Nội trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải luôn lặng lẽ giữ lấy nét hào hoa, thanh lịch của văn hoá Hà Nội lại được đặt giữa bối cảnh đã có sự đối lập giữa lối sống của người Hà Nội xưa với người Hà Nội hôm nay. Có thể nói rằng, các tác giả truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 đã rất thành công trong việc sử dụng thời gian như một phương tiện hữu hiệu để tạo nên hiệu quả nghệ thuật nhất định. Do vậy, tìm hiểu yếu tố thời gian nghệ thuật trong tác phẩm không những là để khám phá tác phẩm mà còn giúp học sinh thấy rõ được tài nghệ của nhà văn; có nhận thức được sự sâu sắc, tinh tế về nội dung của tác phẩm, thì việc tiếp nhận tác phẩm mới trở nên toàn vẹn hơn. 3. Ngôn ngữ, giọng điệu * Ngôn ngữ Ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 thể hiện hết sức phong phú, đa dạng vừa gần gũi, bình dị như cuộc sống hàng ngày lại vừa đầy suy tư, sâu lắng. Truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải và Chiếc thuyền ngoài xa của nguyễn Minh Châu là minh chứng hùng hồn cho đặc điểm đó. Sự lí giải của người đàn bà hàng chài trước tòa án huyện “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con rồi nuôi cho con đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!… vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Phải nói rằng, cái ngôn ngữ mà người đàn bà hàng chài đưa ra để giải thích lí do đối với chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng; dù không hoa mĩ, cầu kì, sắc sảo nhưng nó chứa đầy sức thuyết phục. Vì đó là ngôn ngữ của người đàn bà hàng chài, nó bình dị gần với cuộc sống đời thường nhưng mang đậm triết lí sâu sắc. Bởi đó là thực tế cuộc sống mà chỉ có họ mới là người nếm trải, lại thấm thía và thấu hiểu mà không ai có thể làm thay được. * Giọng điệu Sau năm 1975, khi chiến tranh đi qua, nhịp sống đời thường trở lại với tất cả những biểu hiện phong phú của đời sống ích kỉ, vị tha, cao thượng, thấp hèn, phàm tục…Văn xuôi từ chỗ “phản ánh hiện thực” đến chỗ “nghiền ngẫm hiện thực”, đi vào tìm hiểu “toàn bộ chiều sâu của tâm hồn con người”.Vì thế văn chương không thể chỉ có cảm xúc ngợi ca mà còn có đối thoại, đó chính là biểu hiện của mối quan hệ bình đẳng giữa nhà văn và độc giả. Thời kì này, nhà văn nhìn cuộc sống qua lăng kính đời tư, thế sự, quan tâm đến con người ở tư cách cá nhân. Từ giọng điệu trang trọng sử thi, sắc bén họ chuyển dần sang giọng điệu tâm tình, gần gũi, giản dị của đời thường. Con người không chỉ là đối tượng để ngợi ca mà còn là tiêu điểm để nhà văn khai thác bề sâu tâm hồn. Nếu như trước 1975, nhà văn ngợi ca những con người, những sự kiện mang tầm vóc sử thi thì sau 1975, tác phẩm truyện ngắn tập trung ngợi ca những con người bình dị, hồn nhiên thể hiện niềm tin của tác giả vào con người và cuộc đời. Việc ngợi ca đức hi sinh cao cả của người phụ nữ làm nghề chài lưới trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa đã cho thấy thái độ trân trọng, thấu hiểu và cảm thông của nhà văn đối với nhân vật mình. Hay trong truyện ngắn Một người Hà Nội, Nguyễn Khải đã cho thấy trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử nhân vật cô Hiền vẫn mãi là “hạt bụi vàng” giữa đất kinh kì “chói sáng những ánh vàng”. 4. Cốt truyện, kết cấu của tác phẩm * Cốt truyện Khi tìm hiểu tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, để giúp HS nắm được sự phát triển của cốt truyện, GV có thể yêu cầu HS kể lại tác phẩm sau khi đã đọc. Khi kể, các em có thể trình bày một cách chi tiết hoặc sơ lược, nhưng miễn là giới thiệu được câu chuyện xoay quanh phát hiện của nghệ sĩ Phùng và cuộc sống của gia đình hàng chài. Qua đó, nhà văn gửi gắm quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Nắm được cốt truyện tức là giúp HS củng cố được tri thức văn học đồng thời trau dồi năng lực tư duy, ngôn ngữ, phát triển năng khiếu thẩm mĩ cho HS. Điều quan trọng để nắm vững cốt truyện trong tác phẩm là phân tích các chặng đường phát triển chủ yếu của đó sẽ tạo ở các em một ấn tượng hoàn chỉnh về hình tượng tự sự ở trong tác phẩm. Nắm vững cốt truyện là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình hướng dẫn HS tìm hiểu những yếu tố về nghệ thuật của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 ở trường phổ thông. * Kết cấu Truyện ngắn từ sau năm 1975 đã không chịu đầu hàng trước hiện thực phức tạp, đa chiều của cuộc sống; đã đem lại nhiều kiểu kết cấu hết sức đa dạng, phong phú và linh hoạt. Đó là kiểu kết cấu tâm lí, giúp nhà văn có điều kiện thâm nhập vào thế giới bên trong của tâm hồn con người mà không cần nhiều lời. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc sống của gia đình người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa và những sinh hoạt quen thuộc dường như đã trở thành “nếp” trong gia đình cô Hiền trong Một người Hà Nội; tưởng chừng như rất đơn giản nhưng trong đó chất chứa bao nỗi niềm trăn trở của nhà văn về con người và cuộc sống. Dường như tác giả muốn trao quyền kết luận cho người đọc qua việc sử dụng lối kết cấu độc đáo này. Hay ở phần kết tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, hình ảnh người đàn bà “bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông”. Hình ảnh ấy gợi cho người đọc cảm nhận được rằng “người đàn bà” hòa lẫn trong đám đông ấy phải chăng còn bao số phận khác như người đàn bà hàng chài này chăng? Cuộc đời họ rồi sẽ đi về đâu… Kết cấu đó cũng gợi mở nhiều vấn đề, tạo ra nhiều khoảng trống để người đọc cảm nhận và giải mã khoảng trống đó. 5. Nhân vật trung tâm Khi tìm hiểu nhân vật trung tâm trong truyện ngắn, cần dựa vào các yếu tố lai lịch, ngoại hình, gốc gác, ngôn ngữ, nội tâm, cách ứng xử, cử chỉ, hành động của nhân vật. Phân tích, tìm hiểu nhân vật cô Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội đã cho thấy Điều mà tác giả quan tâm và tập trung thể hiện ở nhân vật cô Hiền chính là vẻ đẹp của một lối sống, nhân cách người Hà Nội, “một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha trộn”, như chính lời của người kể chuyện nói về nhân vật. Truyện đưa ra nhiều chi tiết sự việc về nhân vật cô Hiền, nhưng chung quy lại vẫn là ở hai mối quan hệ chính gia đình và xã hội, với cách mạng. Với tư cách là người mẹ, người chủ gia đình, hay một công dân, ở nhân vật cô Hiền đều toát lên một vẻ đẹp của nhân cách, của lối sống văn hoá, của một bản lĩnh. Đó là con người luôn giữ vững những quan niệm và cách sống của mình, không bị biến suy theo những đổi thay của thời cuộc, lại tỉnh táo sáng suốt, không xu thời nhưng cũng không để bị rơi vào tình thế của kẻ lạc thời. Sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, giàu có; thời trẻ cô Hiền được cha mẹ cho phép mở một xa lông văn chương, nơi gặp gỡ của nhiều văn nhân nghệ sĩ có tiếng của đất Hà thành. Như thế, cô thuộc thế hệ tân tiến trong lớp thanh niên thành thị thời trước cách mạng. Nhưng việc cô lấy chồng lại chọn “một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”. Điều đó thể hiện rõ sự lựa chọn tỉnh táo và những quan niệm nghiêm túc của cô về hôn nhân và gia đình. Nhưng việc dạy dỗ con cái của cô là nhằm hướng tới cái quan trọng nhất trong nhân cách một con người… 6. Tình huống truyện Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa thuộc loại tình huống cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Điều đó thể hiện rõ nét thông qua quá trình nhận thức khá quanh co và được “vỡ ra” từ hiện thực cuộc sống của nhiếp ảnh Phùng và chánh án Đẩu. Để có được một tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, nhiếp ảnh Phùng tới một vùng biển vốn là chiến trường cũ của anh. Và mất mấy ngày “săn tìm”, anh mới “chộp” được một tấm hình như ý. Đó là một sản phẩm quý hiếm của hóa công mà trong đời người nghệ sĩ không phải khi nào cũng có được. Nó giống như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Phùng trở nên bối rối và “trong tim như có cái gì bóp thắt vào”. Anh cảm thấy mình vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nhưng bước ra từ chiếc thuyền là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi; một gã đàn ông to lớn dữ dằn; một cảnh tượng tàn nhẫn gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo; đứa con thương mẹ đã đánh lại cha. Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ, như “chết lặng”, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt. Tuy nhiên, đó mới là phần khởi đầu của truyện cũng như của tình huống. Cuộc tiếp xúc giữa chánh án Đẩu và người đàn bà hàng chài đẩy tình huống truyện lên tầm cao của giá trị nhận thức. Theo lời mời của chánh án Đẩu – người có ý định khuyên bảo, thậm chí đề nghị người đàn bà ấy từ bỏ lão chồng vũ phu. Nhưng trước toà án, chị ta đã từ chối quyết liệt với những lí do không khỏi Phùng và Đẩu “đau đầu” suy nghĩ Đó là vì gã chồng ấy là chỗ dựa quan trọng của những đàn bà hàng chài như chị, nhất là khi biển động, phong ba. Hơn thế nữa, chị còn có những đứa con, chị phải sống vì chúng nhiều hơn là cho bản thân chị. Và quan trọng hơn là trên thuyền cũng có những lúc vợ chồng, con cái sống hoà thuận, vui vẻ… Như vậy, tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa giống như một vòng tròn đồng tâm mà người nhiếp ảnh Phùng cũng như chánh án Đẩu đều phải trải qua một quá trình nhận thức để đạt đến trạng thái “đốn ngộ” cho tâm hồn. Nguồn Dẫn theo bài viết HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG THI PHÁP HỌC VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 của Chu Đình Kiên, Trần Thị Hương
truyện ngắn việt nam sau 1975